Tin mới Xem thêm

  • Thông Báo chuyển Website Hội Nhà Văn TP. Hồ...

    Để có thêm nhiều chuyên mục nhằm phục vụ bạn đọc, Ban Thường vụ Hội Nhà văn TPHCM đã thay đổi giao diện, tên miền cho phù hợp với tầm vóc của một trang văn chương uy tín và chuyên nghiệp.

  • Chi hội Nhà văn Bến Nghé Tổ chức cuộc thi...

    Vừa qua, Ban điều hành Chi Hội Nhà văn Bến Nghé đã quyết định tiến hành tổ chức cuộc thi “Văn Chương Bến Nghé” lần 1 (dành cho Thơ).

  • Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí. Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên

  • Trang Thế Hy người đi chỗ khác chơi

    Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố

  • Doãn Minh Trịnh giấc mơ đêm trở gió

    Người đàn bà bỏ phố/ lên non/ chiều đông/ mơ giấc mơ tự do/ Ngày mới lạ/ bông cúc đọng sương đêm

  • Bùi Việt Thắng & đường đi của truyện ngắn

    Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2015-2017) báo Văn Nghệ thuộc về nhà văn Nguyễn Trường (Giám đốc - Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên). Thông thường

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tác phẩm chọn lọc

Trần Thanh Giao - Chuông chùa

20.8.2011-09:50

Nhà văn Trần Thanh Giao

 

Chuông chùa

>> Thư viện: Trần Thanh Giao

TRUYỆN NGẮN CỦA TRẦN THANH GIAO

 

 

NVTPHCM- Chiều xuống nhanh trong tàn cây rậm rạp bên sườn núi. Hắn mệt mỏi lê từng bước qua các bậc đá trên con dốc quanh co dẫn lên chùa. Có tiếng chuông văng vẳng trôi trong không gian lạnh lẽo. Hắn ngồi phệt xuống một rễ cây bò ngang đường đã thành bậc dốc. Rễ to, nhẵn bóng. Chẳng biết bao nhiêu người đã dẫm lên, đã ngồi lên đây, trong biết bao nhiêu năm khi chưa có và khi đã có tiếng chuông chùa...

Hắn xoạc khuy kéo của chiếc áo khoác lấm màu đất núi, tháo nón quạt bộ ngực rịn mồ hôi, nuốt nước miếng khan. Gió lạnh rì rào thổi qua vòm lá như một ý thơ hay một nét nhạc chiều, gợi nhớ những bài thơ, bản nhạc hắn được nghe từ hồi còn là học sinh trung học. Đầu hắn dịu lại. Mấy mươi năm lẩn tránh trong cuộc đời, hắn đã gặp biết bao cảnh ngộ trớ trêu... Từ một cậu học trò con nhà khá giả, thích học âm nhạc, hắn cố lẩn tránh nhưng buộc phải đi học võ bị, thành sĩ quan khi còn rất trẻ; ra trận, hắn cố lẩn tránh bắn giết nhưng buộc phải bắn giết... Hắn nghĩ có lúc nào đó hắn sẽ viết một pho tiểu thuyết về cuộc đời mình, với nỗi hồi hộp thắt tim khi nằm trên trang thờ cùng con chuột tránh sự lùng sục của bọn đi bắt lính, với nỗi khiếp sợ són đái khi lần đầu ra trận đánh nhau, với lòng ân hận ray rứt âm ỉ từng cơn sau khi giết người cướp của... Khi chiến tranh chấm dứt, lẽ ra hắn phải đi trình diện, nhưng hắn lại lẩn tránh... Vì hắn không còn tin những lời nói nữa. Hắn chỉ tin ở hành động, hành động của chính mình. Và số phận cứ xô đẩy hắn đi... Nắng tắt hẳn. Gió thêm lạnh. Hắn uể oải chống cành cây bẻ vội làm gậy, khoác túi đứng lên bước tiếp...

Khi màn đêm bao trùm cảnh vật, hắn lên tới cổng chùa. Ngôi chùa thâm u, nép mình dưới một gốc đa xòe tán rộng mênh mông vào bóng tối. Trăng đầu hôm soi mờ khiến rễ đa thành một đàn rắn hình thù ngoằn ngoèo, chuyển động.... Các cửa vào chánh điện chùa đã đóng. Chỉ thấy ánh sáng le lói hắt ra qua những chấn song trên cao và một mùi hương trầm lan nhẹ trong gió thoảng. Tự nhiên hắn thèm biết ánh sáng và mùi hương phát ra từ đâu. Có phải từ cặp chân đèn và bộ lư bằng gỗ trầm chạm khắc hoa văn kỳ lạ mà du khách bốn phương từng đến đây chiêm ngưỡng mách bảo lẩn nhau. Lần theo các cánh cửa, hắn thấy một khe sáng. Mừng quá, hắn dán mắt vào. Không khí trong chánh điện rờn rợn, ánh sáng tỏa mờ mờ. Tượng Phật uy nghi, tay đặt lên đùi, tay để trước ngực, mắt lim dim thiền định bỗng như hé mở, nhìn hắn, cùng lúc với tiếng hỏi:

- A Di Đà Phật, ông tìm ai?

Hắn quay phắt lại, và không chút lúng túng (bao năm lẩn tránh, hắn từng đối phó với bao bất ngờ), đáp lại cũng bằng một câu hỏi:

- Mô Phật, thưa, chẳng biết sư trụ trì có nhà không?

Rồi hắn liếc nhanh chung quanh, phán đoán... Thần kinh hắn dịu lại. Trước mặt hắn là một ni cô trong bộ đồ dài màu khói nhang, áo cài chéo nách. Ni cô không còn trẻ, hơi gầy và xanh, nhưng nét mặt rất xinh và vóc dáng rất đẹp.

- Dạ, thầy tôi vừa có việc xuống núi ít hôm. Thí chủ quen thầy tôi?

Hắn cười gượng, đáp mơ hồ:

- Dạ... Tôi từng nghe tiếng thầy...

Ni cô nhìn hắn từ đầu tới chân... Hắn vội nói:

- Dạ... Tôi đi hành hương. Đến đây trời tối... Xin cho tá túc một đêm... Mai tôi vào đảnh lễ...

Ni cô phân vân một chút... Rồi nói:

- Mô Phật. Trời tối rồi. Đường xuống núi còn xa... Thôi, ông cứ qua bên kia, có mái tranh cho bá tánh thập phương lên vãn cảnh chùa nghỉ tạm... Xin theo tôi...

Ni cô đi trước. Hắn bước theo ánh chiếc đèn bão đu đưa nhè nhẹ dưới nhịp tay ni cô. Chẳng mấy chốc, một mái tranh lờ mờ hiện ra. Ni cô chỉ dẫn:

- Lu nước ngọt kia, đèn dầu và diêm đây... Ông có thể dùng nhưng xin tiết kiệm cho người đến sau...

Ni cô trỏ tiếp mấy chiếc chiếu để ở đầu tấm phản gỗ dài dùng cho khách thập phương trú tạm:

- Ông cứ trải chiếu ra mà nằm nghỉ. Đêm lạnh, có thể lấy đắp thêm... Nhà chùa còn nghèo, xin ông thông cảm...

Hắn vội đáp:

- A Di Đà Phật. Vầy là quí lắm rồi...

Hắn nói thật, vì trong cuộc đời rày đây mai đó, qua đêm ngoài trời là chuyện hắn thường nếm trải... Ni cô cúi chào, cáo lui. Hắn thở dài... Được ít bước, ni cô dừng lại, hỏi vọng sang:

- ... Mà ông ăn cơm chưa?

Hắn mừng quá nhưng cố kìm lòng, chậm rãi đáp:

- Dạ... tôi lỡ độ đường... nên chưa...

Ni cô quay lại mấy bước:

- Thôi, để tôi mời ông dùng tạm bữa... Cơm chỉ có rau và tương thôi... Ông vui lòng...

Hắn vội đáp:

- Dạ, vậy tốt quá rồi. Tôi đâu dám đòi hỏi...

Khi hắn rửa ráy xong, vừa trải chiếu ra nằm nghỉ một lúc thì ni cô tới với một niêu cơm, bát tương và dĩa cải luộc vun đầy trên chiếc mâm gỗ cũ đã sờn mẻ. Mùi cơm mới khiến hắn bật dậy.

- Mời ông dùng tạm.

Hắn xoa tay, nở cười:

- Xin cảm ơn.... Rất cảm ơn...

- Ông cứ dùng tự nhiên. Bát đũa để sáng mai tôi dọn...

Ni cô xách chiếc đèn bão dợm gót quay đi thì hắn vội vàng nói:

- Bạch... thầy... Không dám nào... thầy có thể cho tôi hỏi...

- Ông muốn hỏi chi?

- Thưa... tôi nghe đồn... chùa... có ma... Có đúng không thầy?

Ni cô dừng bước, ngoáy đầu lại, cười tủm:

- Ông cũng sợ ma ư?

Hắn làm ra vẻ bối rối vì thật ra mấy mươi năm lẩn tránh cuộc đời, hắn đã thấy đủ màu xanh đỏ tím vàng, có chi mà sợ... Hắn chỉ muốn... khai thác thông tin...

- Dạ thưa thầy...

Ni cô dường cũng muốn... thông tin nên quay gót đi về phía hắn:

- Đó là chuyện... mươi năm trước...

- Mà có chuyện đó thật không thầy?

Ni cô đặt chiếc đèn bão giữa hai người, ngồi ghé lên mép phản:

- Người ta đồn vậy mà...

- Thưa... khi thầy về đây thì còn chuyện đó không?

Ni cô nhếch mép cười mơ hồ:

- Cũng... còn một chút...

- Là sao, thưa thầy...

- Khi Đại dức trụ trì chùa vừa được bổ về đây vài tháng thì tôi cũng vừa lên chùa phát nguyện...

- A!... Chùa lúc đó ra sao, thưa thầy?

- Vùng này trước có chiến sự ác liệt, chùa gần như bỏ hoang. Trước khi chúng tôi về, tin đồn chùa có ma vẫn lan truyền. Mới chạng vạng tối, ông thủ tự vừa lên chánh điện đốt nhang thỉnh chuông thì có một cái chân người rớt bịch xuống trước mặt...

Ni cô liếc nhìn người khách... Hắn tiếp tục suy tư chứ không tỏ vẻ ngạc nhiên hay khiếp sợ... Ni cô kể tiếp:

- ... Kế đó, lại một cái chân rớt phịch xuống. Rồi một cái tay. Hai cái tay... Cuối cùng là mình, rồi cái đầu răng nanh gớm ghiếc... Chúng ráp lại với nhau thành một con quỷ định chụp bắt ông thủ tự nhai sống. Ổng sợ mất mật, tông cửa chạy bán sống bán chết xuống núi... Từ đó, không ai dám bén mảng vào chánh điện...

Ni cô lại liếc nhìn hắn... Hắn vội ôm ngực như mắc nghẹn:

- Ôi, ghê quá... Vậy thầy có lần nào gặp chưa?

Ni cô cười lảng:

- Khi tôi về đây, còn thấy bốn con kên kên ở gốc đa kia. Mỗi khi sắp bay, chúng dang cánh chạy lấy đà, sải cánh có tới năm mét. Ở trên cây, hàng ngàn con chim, ban đêm ríu rít nỉ non, nghe ai oán lắm...

- Vậy thầy làm sao?

- Sư thầy tôi trụ trì chùa bèn lập trai đàn giải oan, cúng ba ngày ba đêm, đèn nhang thắp sáng như sao, mõ chuông tụng niệm không dứt... Thập phương bá tánh, nhất là bà con quanh vùng tới cúng lễ, cầu siêu, nấu cơm, rửa chén... Sau ba ngày đêm thì mấy ngàn con chim bay đi hết, lũ kền kền cũng bay luôn. Đêm, cây đa chỉ rì rào, không còn tiếng nỉ non ai oán nữa... Các oan hồn đã được siêu thoát. Chùa thịnh lên từ đó...

- Thưa... Còn việc trong ... chánh điện...

Ni cô lại liếc nhanh khuôn mặt người khách:

- Bá tánh vào cúng dường ban ngày. Còn ban đêm, chỉ có người của chùa lên thỉnh chuông hay tụng niệm...

- Tụng niệm suốt đêm?

Ni cô nhếch mép cười:

- Công phu thì có thời có khắc... Phật đã dạy: Bể khổ mênh mông, quay đầu lại là thấy bờ...

Hắn thấy ni cô đưa mắt như gửi lời nói sang. Rồi ni cô đứng dậy:

- Thôi, ông cứ dùng cơm tự nhiên... A Di Đà Phật...

- A Di Đà Phật.

Hắn nhìn theo ánh đèn bão đu đưa xa dần qua các vòm cây, vừa nhai cơm vừa ngẫm nghĩ. Ni cô là ai? Người xinh đẹp thế, nói năng lưu loát thế sao lại đi tu? Hắn cố lục lọi trong trí nhớ thông tin về ngôi chùa: bộ lư đèn, sư trụ trì... Sư trụ trì đi vắng, thuận lợi cho hắn... Nhưng còn ni cô? Hắn cố nhớ thông tin về những ni cô mà hắn tình cờ nghe được qua những ngày tháng giang hồ... À, có một người, trước đi Thanh niên xung phong, yêu một anh lái xe Trường Sơn, yêu thắm thiết đến nỗi có một “nhà văn giang hồ” tưởng tượng ra cảnh họ trần truồng nô đùa, tắm táp và làm tình với nhau bên bờ suối giữa rừng, có bướm vàng bay, có hoa đào trôi theo dòng nước... Nhưng cuộc đời của cô cũng có khói lửa đất đá, bom rơi đạn nổ, có những đợt sốt rét rừng rụng hết cả mái tóc mây dài, có những lúc tắt kinh vì ăn hoài món muối sả và những lúc lên cơn bệnh kỳ lạ như người động kinh vì thiếu vắng hơi trai... Chiến tranh chấm dứt, cô chờ anh lái xe trở về, chờ mãi chờ mãi đến quá lứa lỡ thì đành ôm mối tình chung lên chùa qui y cửa Phật... Có gì giống nhau trong số phận, trong bản lĩnh cô gái ấy và ni cô hôm nay... Dù sao thì nụ cười bí hiểm và cơ thể dường như trong suốt mà quyến rủ của cô cũng làm cho gã giang hồ ngẩn ngơ mê mẩn, có khi hơn cả bộ lư đèn. Hắn tự hỏi: hai thứ đó, thứ nào quí hơn?

Thổi tắt ngọn đèn dầu, hắn ngả mình xuống phản, gác đầu lên chiếc gối đan bằng mây đã lên nước bóng, ngủ lơ mơ...

Hắn mơ về những trận ốm suýt chết, nằm queo dưới gầm cầu hay trong cái chòi nhỏ giữa rừng, không thuốc thang, không ai giúp đỡ chăm sóc, giữa cơn mưa lạnh tái tê... Ngọn đèn bão của ni cô đu đưa đốm lửa ấm khi gần khi xa... Hắn đưa tay chụp níu mãi không được... Hắn tuyệt vọng. Hắn khóc nhưng nước mắt chẳng còn... Một bàn tay ấm đặt lên trán hắn. Một chén trà nóng kề môi... Một mùi hương bảng lãng trong màu khói nhang, an ủi, nâng đỡ... Hắn mơ một mái ấm gia đình bên con suối giữa rừng... Rừng một dãy cây chen vạn gốc / Góc cây rừng một nóc nhà tranh.... Đêm xuống, ngọn đèn xanh giữa nhà vẽ bóng người vợ ru con, khuôn mặt sao giống ni cô quá vậy... Còn bóng người chồng lui cui đan sọt đựng than mai xuống núi bán là hắn đó chăng... Đêm khuya con ngủ đèn tàn / Bao nhiêu thế sự muôn vàn tình thâm...

***

Hắn ngủ thiếp đến quá nửa đêm, và tỉnh giấc khi ngọn gió về sáng chuyển lạnh. Mở mắt, định thần một lúc, hắn nhẹ nhàng ngồi dậy. Bên ngoài, trăng tà xuyên màn sương đỉnh núi soi quạnh quẽ cảnh vật quanh chùa. Hắn lục tìm trong túi xách mấy thứ đồ nghề rồi buông chân xuống đất. Rời khỏi nhà nghỉ, hắn di chuyển từng chặng, nép mình sau các gốc cây, hướng về phía chánh điện... Cây đa cổ thụ vẫn vươn bóng che thêm ngôi chùa u tịch. Rễ cây như đàn rắn xoắn xít, chuyển động theo gió lạnh dưới ánh trăng mờ. Lần theo vách hông ngôi chùa, hắn nhích dần về phía hậu liêu... Có một cửa ngách! Hắn áp tai lắng nghe. Bên trong im ắng. Trời đất như đang trong giấc ngủ sâu...

Hắn bật tách con dao nhọn, đưa vào khe cửa, loại cửa gỗ có then ngang thường thấy ở những ngôi chùa xưa, làm từ trăm năm trước. Then bên trên. Rồi then bên dưới... Hắn đưa tay đẩy nhẹ. Cánh cửa mở ra theo tiếng rít két trên trục xoay. Hắn đứng yên, nghe ngóng... Chỉ có hơi thở đều đều của đất trời say ngủ. Bước dứt khoát vào trong, hắn bật chiếc đèn pin nhỏ xíu soi lối, lần lên chánh điện...

Chánh điện rộng mênh mông. Hương khói lan tỏa quẩn quanh, phiêu diêu ngan ngát.... Hai ngọn nến vẫn cần mẫn cháy sáng trên cặp chân đèn, dưới tượng Phật. Ánh nến lung linh soi ánh vàng thân tượng lấp lánh, soi hơi thở bức tượng mùi trầm... Hắn không vội vã, từ từ rút mấy nén nhang, châm lửa, chấp tay thành kính đưa lên trán. Hắn khấn Phật phù hộ độ trì cho hắn, một tên “trộm cướp bất đắc dĩ”. Phật từ bi cứu độ chúng sinh. Hắn cũng là một sinh linh, mà sinh linh nào cũng muốn được sống hết năm tháng đất trời ban tặng. Hắn trộm cướp một món đồ, còn có kẻ trộm cướp những món to hơn: một dinh thự, một dòng sông, một quần đảo, một đất nước, và cướp cả thế giới nữa kia. Hắn cướp một mạng người nhưng có kẻ cướp hàng triệu mạng sống... Hắn cướp vì đói, còn có kẻ cướp vì lòng tham, vì danh vọng, và vì muôn ngàn ham muốn khác... Hắn nghĩ rằng con người khi hành động đều có “triết thuyết”, có “chủ nghĩa” để tự cổ vũ hay tự biện minh, hay chống lại các thứ triết thuyết của người khác, giành một chỗ đứng cao hơn dưới ánh mặt trời. Hắn cũng vậy. Đừng ai lạ khi một tên cướp như hắn cũng có triết lý hay luận thuyết... Tùy theo trình độ mà có những “luận thuyết tướng cướp” khác nhau. Theo hắn thì người được gọi là anh hùng hay tướng cướp, cấp tiến hay bảo thủ, hoặc gì gì nữa... cũng chỉ là do lợi ích của người phán xét... Vậy nên hắn cứ hành động theo “luận thuyết” của mình. Chẳng phải người ta vẫn nói “được làm vua, thua làm giặc” đó sao? Đêm nay, trước khi hành sự, hắn khấn Phật cũng là để khấn... mình. Khấn xong, hắn tiến lên cắm mấy nén nhang trong bát hương dưới chân Phật, rồi lùi ra, xá ba xá mong lời nguyện cầu được linh ứng.

Bỗng nhanh như chớp, hắn phốc lên bệ thờ, bật đèn pin, dán mắt săm soi chiếc lư trầm. Dưới ánh đèn xanh đom đóm, hắn thấy chiếc lư to tròn phản quang xanh biếc như một hành tinh thu nhỏ, hai bên tay nắm là đôi nam nữ đang vẽ những nét phượng múa rồng bay uốn lượn theo khói nhang. Trong lư hương, rực hồng một đốm lửa. Mùi hương ngan ngát quẩn quanh. Hơi nóng hắt vào mặt, lan nhanh khiến cả người hắn nóng lên rừng rực. Hắn thấy khó thở, cổ họng rát bỏng... Nhưng hắn vẫn không sao rời mắt khỏi chiếc lư kỳ lạ. Có lẽ nó được chế tác từ một khối trầm cực lớn lấy ra từ một cây dó cổ thụ cực to. Khói nhang lãng đãng xung quanh nên hoa văn chạm khắc trên lư hiện ra khi mờ khi tỏ và sống động lạ lùng. Dường có một đôi nam nữ hòa quyện cùng nhau đang giao hoan theo tư thế lộn ngược, đầu người nọ rúc vào chỗ kín của người kia, giông giống biểu tượng âm dương giữa bùa bát quái. Chỗ nào bên phần âm là có thì bên phần dương là không, chỗ nào bên phần dương lộ ra thì bên phần âm khuyết lại. Sắc sắc không không, sinh sinh hóa hóa... Mắt hai bên nam nữ đều đang độ rực sáng, ánh sáng rỡ ràng tuyệt cảm của đốm trắng phần âm và chiều sâu đê mê lịm tắt của đốm đen phần dương... Phần dương khắc nổi hiện lên dưới ánh nến lắc lay, động cựa; phần âm khắc chìm, khuyết sâu, để màu lửa đỏ thêm xanh thăm thẳm khôn cùng; hai phần đang quấn quít uốn lượn cùng nhau và quằn quại theo khói hương lan tỏa đất trời... Hắn cũng ngất ngây: đúng là tuyệt tác, đúng là có cảm hứng của Thợ tạo... Hoa văn này, chất liệu này, báu vật này... đúng là vô giá...

Bằng động tác dứt khoát, hắn thò tay đỡ lấy vật báu, thu nhanh về phía mình, nhưng bảo vật nhùng nhằng không chịu rời chỗ. Hắn giật mạnh. Bỗng một tiếng chuông “Boong” rõ to trong không gian tĩnh lặng, vang khắp chánh điện, vang ra cây đa trùm bóng, vang trong đêm sương về sáng... Hắn giật nảy mình. Cùng lúc, hắn dựng tóc gáy khi thấy một khúc chân ma trên nóc nhà rơi xuống, da trắng như lột, khớp háng tướp tơ đỏ máu đang lơ lửng, đu đưa... Hắn vẫn chưa chịu bỏ chiếc lư, giật mạnh lần nữa. Lại thêm tiếng chuông “boong” dường gấp gáp hơn, to hơn. Rồi một cánh tay ma rơi xuống trước mặt hắn. Cùng lúc có tiếng người âm vang trong chánh điện:

- Dừng tay! Ngươi vào lối nào thì ngươi ra lối đó...

Giọng nói theo hơi chuông ngân, vang đi dội lại, xoay tròn như biểu tượng âm dương...

Sợ toát mồ hôi, hắn đặt lư hương vào chỗ cũ, nhảy phịch xuống đất. Nhưng hắn chưa chịu trở ra. Hắn nép mình vào một thân cột, quan sát, chờ đợi. Chân tay ma vẫn lủng lẳng trên cao, chưa có mình, chưa có đầu ma ráp lại... Hắn nghĩ nhanh: một cái bẫy giữ gìn báu vật? Chờ thêm chút nữa, không thấy động tĩnh, hắn từ chỗ nấp mò ra, ngó trước ngó sau, lại lần về bệ thờ... Bỗng một lệnh dõng dạc:

- Dừng lại! Ngươi vào lối nào thì ngươi ra lối đó...

Hắn quay phắt về phía phát ra tiếng nói, bất chấp lời răn đe lần hai. Không một bóng người. Hắn suy nghĩ, phán đoán: hình như giọng nói của ni cô ban tối qua một tấm khăn bịt mũi bịt mồm. Hắn quả quyết tiến về phía đó, tay rút dao nhọn, bật tách. Một chiếc bóng như nhang khói cũng hiện ra... Hắn nhảy xổ tới. Chiếc bóng né sang bên, phất tay áo rộng khói nhang vào mặt hắn. Một mùi hương lạ xộc lên mũi, hắn thấy đầu choáng váng, dao nhọn rời khỏi tay. Hắn nghĩ thật nhanh: thuốc mê. Hắn cởi ngay áo, cuộn lại đưa lên bịt mũi mồm. Cùng lúc, hắn nhảy tới giật tung áo của chiếc bóng khói nhang, loại trừ nguồn mê. Bị bất ngờ, chiếc bóng không kịp chống đỡ, và trong khi giằng co, áo nhang rách toạc. Một khuôn ngực với hai bầu vú tròn căng, xanh và trong như ngọc tỏa ngát hương thơm... Hắn nghĩ nhanh: Báu vật thứ hai! Phật đã thấu lời ta cầu khấn! Hắn lao đến trong niềm ước vọng vùi đầu vào khuôn ngực, với sức mạnh của phần dương nhiều năm tích tụ trong lòng. Âm chống trả quyết liệt, cào cấu, cắn xé, quẫy đạp... nhưng dương trên đà thịnh, dồn dập, hừng hực, điên cuồng... Chẳng mấy chốc, dương lấn thế, lấn dần, tràn vào khắp phần âm... Âm không thể chống cự bèn nương theo tự nhiên, chờ lúc dương lên cao cũng tự lớn dần, trùm lên lật ngược tình thế và đè chặt... cho đến lúc dương tới đỉnh, lịm tắt thì âm liền úp chụp tay áo có mùi hương lạ lên mũi lên miệng hắn. Hắn cố vùng vẫy nhưng sức hắn bây giờ... tay chân như đã rã rời... Trước khi ngất luôn, không động cựa, hắn còn sững tròng nhìn lên khúc chân và cánh tay ma bợt bạc, đu dưa trong chánh điện ngát hương trầm, tai nghe văng vẳng tiếng chuông chùa như khuyên lơn, như cảnh tỉnh... giữa niềm ngây ngất chưa tan...

***

Mười năm sau.

Hắn ra tù với mái tóc pha sương, không gia cư, không nghề nghiệp. Một buổi chiều, hắn lê gót trên các bậc đá dẫn đến ngôi chùa cũ. Đường lên chùa rộng rãi hẳn ra, các bậc xây đá hộc, to và gọn, đẹp. Chiếc rễ cây bò ngang lối đi vẫn còn đây nhưng lớn hơn, bóng hơn và thêm những nhát khắc cho khách hành hương khỏi trợt chân ngày mưa. Hắn ngồi phệt xuống, xoa tay lên da người bạn cũ rễ cây, tháo chiếc nón lá rách phe phẩy làm dịu ngực mình trong nghẹn ngào kỷ niệm...

Cổng chùa xây mới, đẹp đẽ khang trang. Mấy ki-ốt bán kinh Phật, hương hoa, đồ mỹ nghệ, lưu niệm... sắc màu rực rỡ. Hắn đảo mắt nhìn quanh tìm một chỗ bên vệ đường, thu người ngồi xuống trên chiếc gậy, quai bị ngoắc vào tay, ngả nón trước mặt xin lòng thương của thập phương bá tánh... Và hy vọng tìm lại sự tha thứ của một người mà suốt những tháng năm ăn năn dằn vặt, hắn thường mơ tưởng bóng hình trong cái thế lật ngược âm dương... Nhiều phen hắn nghĩ nếu đó là thế võ để hạ gục hắn thì mối giao cảm kia cũng mạnh đến nỗi giữa bể khổ mênh mông, nó thành đốm lửa đu đưa khiến hắn phải quay đầu tìm về bờ bến... Một ông khách ngậm píp buông xuống chiếc nón lá rách vài xu lẻ. Một bà đeo vàng cúi xuống đặt hẳn một tờ tiền...

Bỗng hắn nghe tiếng con nít đánh lộn, xô đẩy nhau chí chóe. “Đồ con nhà hoang. Đồ con tướng cướp.” Thằng bé áo rách xoạc, mặt mũi bơ phờ mếu máo vừa quệt nước mắt nước mũi vừa vùng chạy khỏi lũ bạn cứ bám theo chọc chửi. Hắn nhói lòng khi nghĩ tới phận mình trong xã hội... Đến khi nhìn rõ mặt thằng bé và chiếc áo rách xoạc, hắn thấy tim như bị ai bóp chặt làm hắn suýt ngất xỉu: nó giống hắn như tạc!

Dò la ướm hỏi, hắn được biết thằng bé là con một ni cô trong chùa, chửa hoang... Ni cô có công bắt một tên cướp báu vật thờ tự của chùa, được mọi người ngợi khen, được ghi công trạng. Nhưng vì cô có chửa, lại đẻ ra một thằng con giống y tên cướp nên sư trụ trì đành phải cho cô ra dân, không thể để nhà chùa chịu gánh nặng của lời đàm tiếu...

Song còn Phật, Phật nỡ nào chối bỏ con người... Ni cô giờ ở đâu, số phận ra sao... Có ai kể cho hắn biết những nỗi bất hạnh mà ni cô phải mang trong mười năm qua, gánh nặng gấp trăm ngàn lần gánh nặng đời tù của hắn... Nỗi xót xa ân hận dày vò hắn phải chăng còn dịu dàng hơn là nỗi nhục nhã vò xé người mà hắn vẫn thường gặp trong mơ...Biết bao lần hắn đã nghĩ: Giá như mình đừng cậy khôn cậy khỏe cướp của hiếp người... Ngay cả khi hắn đứng đầu một đất nước khôn nhất, mạnh nhất hành tinh theo “triết thuyết tướng cướp” của hắn thì cũng có lúc hắn sẽ tự hỏi: sao loài người lại căm ghét mình đến thế nhỉ... Hít-le chẳng phải đã bị ngọn lửa hận đó thiêu xác hay sao... Còn giờ đây, hắn là cái thá gì... Và giấc mộng góc cây rừng một nóc nhà tranh với hình ảnh của ni cô cứ ám ảnh hắn không nguôi... Ni cô là người tu hành, là con của Phật từ bi hỉ xả, vô ngã vị tha, sẽ tha thứ cho người đã ăn năn hối cãi suốt mười năm qua, nay quay đầu tìm về bờ bến? Và kiếp sau của ni cô với hắn: đứa con...

Phật từ bi cứu độ chúng sinh, nhưng còn Hóa công... Phải chăng ông sẽ chối bỏ con người vì những điều ác nó vẫn làm, ngược với ý muốn sáng tạo tốt đẹp của ông. Và cả vì điều thiện nó hằng mong nhưng biết bao giờ vươn tới... Ông sẽ chối bỏ cây đa lẩn lũ chim chóc nỉ non, cả chiếc lư hương ánh xanh và đốm lửa hồng trong ruột... Bằng những sấm sét bão bùng, bằng trò nương dâu bãi biển, bằng những con vi-rút sinh ra dồn dập và biến đổi khôn lường, tràn ngập như cơn đại hồng thủy... Và cuối cùng bằng nhịp hít mọi thứ vào cái lỗ mũi đen ngòm khiến cho mọi thiên hà đền tan nát, rồi sau đó hắt hơi để triệu triệu năm sau lại có thuyết Big Bang mới... Mọi lời cầu khấn thành tâm, mọi tiếng kêu thương đứt ruột đều không có nghĩa trước sự chán ngán đến thành vô cảm của Hóa công...

Nhưng đó là chuyện còn xa... Trước mắt, hắn mong một bữa cơm chiều nóng sốt với rau cải chấm tương, cháy lòng vì sự bất công với những gì là máu thịt của mình, và đau đáu đi tìm ánh lửa đu đưa trong đêm tối... Hắn gục xuống ôm tim thở dốc, mắt nhìn thấy bộ ngực trần xanh như ngọc qua manh áo rách, tai vẳng lên câu nói sấm truyền sinh hóa, sắc không: Ngươi vào lối nào, ngươi ra lối đó...

Hoàng hôn dần xuống trên đỉnh núi có ngôi chùa ẩn dưới gốc đa...

Chuông chùa ngân nga, lan trong không gian mênh mông mỗi chiều chạng vạng... 

 

TRUYỆN NGẮN CỦA TÁC GIẢ KHÁC:

>> Nguyễn Hữu Sơn - Mùa hoa vải

>> Nguyễn Danh Lam - Hồng thuỷ

>> Nguyễn Thị Kim Hoà - Cát

>> Đặng Hồng Quang - Liều thuốc điện tử

>> Đỗ Ngọc Thạch - Người con hiếu thảo

>> Nguyễn Hoài Sâm - Đi về nơi xa

>> Phương Trà - Cửa thiền thanh tịnh

>> Nguyễn Hữu Hồng Minh - Vẽ bùa mà đeo

>> Đặng Thanh Nhân - Quy định thuần Việt

>> Nguyễn Trọng Văn - Dưới gầm cầu có người đàn bà biết hát

>> Hoàng My - Màu xanh Margarita

>> Đoàn Thạch Biền - Nhà tiên tri ảo

>> Bích Khoa - Con thú ăn giấc mơ

>> Bích Ngân - Đàn ông nông nổi; Đàn bà sâu sắc

>> Vũ Thanh Hoa - Chùm truyện ngắn mini 1

>> Lê Hoài Nam - Triết luận hoa trà

>> Nguyễn Quang Thiều - Không có chứng minh thư

>> Yến Linh - Khúc hát trong mưa

>> Thanh Bình Nguyên - Những giấc mơ xanh

>> Võ Thu Hương - Mảng mây vỡ ngoài cửa sổ

>> Nguyễn Thị Hải - Từ hẻm trưa đến đêm công sở

>> Trương Anh Quốc - Chân thành

>> Đỗ Ngọc Thạch - Kiếm sống

>> Nguyễn Thu Trân - Thắp nến trên sông

>> Ngô Thuý Nga - Có những lúc như thế

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.