Tin mới Xem thêm

  • Bút phê

    Giữa năm 2016, Trần Thị Thành cầm tấm bằng cao đẳng sư phạm khăn gói xa quê làm giáo viên hợp đồng ở Sài Gòn.

  • Khác biệt Chúa trời - khác biệt hành vi

    Trước tình huống người thì cho rằng tôn giáo làm cho mọi người hành động tốt hơn, người lại cho rằng tôn giáo đầu độc mọi thứ, Azim Shariff - trợ lý giáo sư tâm lý học và giám đốc Phòng thí nghiệm Văn hoá và Đạo đức tại UO đã hướng mục tiêu nghiên cứu của mình vào việc khám phá nguồn gốc tiến hoá của hành vi đạo đức

  • Nguyễn Trương Quý & Dị đoan

    Phải mất vài tháng sau khi lấy nhau, Thủy mới biết Việt không ăn đồ biển. Phải ở cảnh một người khác sẽ cảm thấy thiệt thòi nhưng Thủy lại

  • Tô Minh Yến mưa bẻ khoá lòng đêm

    Ngày đã cũ/ Lòng người đã cũ/ Dọn nỗi nhớ/ Cất/ Tháng chín chênh vênh/ Nỗi buồn về trú ngụ/ Em khóa lòng vào đêm/ Mưa bẻ khóa/ Tràn ngập bóng anh/ Ngôn từ bất lực/ Vạn vạn tầng số cảm xúc bị dồn nén/ Một lần/ Hai lần/ Khoảng cách đuổi nụ cười / Cơn sóng tình cao hơn lần sám hối

  • Trả tác quyền nhạc trên tivi là đương nhiên

    Trong tác phẩm Sự sống sau cái chết, tác giả Deepack Chopra đã nêu một thử nghiệm kỳ lạ để chứng minh tình trạng con mèo vừa chết vừa sống

  • Tìm một ai đó giống anh - Bùi Đức Ánh

    Thành công tập truyện ngắn Tìm một ai đó giống anh không chỉ dừng ở đam mê mà còn là sự trải nghiệm của tác giả

Chân dung Xem thêm

  • Thanh Tùng & bất diệt Thời hoa đỏ

    Thanh Tùng qua đời ở tuổi 83 là dịp những câu thơ hay nhất của ông tung ra công chúng đi kèm những giai thoại, cho thấy một sức vóc Thanh Tùng lớn

  • Vũ Quần Phương nghĩ mới và viết mới

    Câu chuyện muôn đời và cũng là nỗi trăn trở muôn đời của văn học nghệ thuật là “sáng tạo”. Sáng tạo khác với mọi người đã đành

  • Võ Văn Trực chuyện đời bao nỗi đục trong

    Tuổi già, sau lần tai biến cứ dần nuốt chửng trí nhớ và sức lực của ông. Ông không nhớ gì nhiều, khoảng ký ức đậm nét nhất là hình bóng quê nhà

  • Chữ bầu lên Lê Đạt

    Một trong những điều tôi và nhiều anh em làng văn nhớ nhất ở Lê Đạt là tiếng cười. Tiếng cười Lê Đạt mới nghe thấy sảng khoái

Thế giới sách Xem thêm

Thế giới sách

Đọc cuốn sách có tính triết văn của Triệu Từ Truyền

12.4.2017-09:00

 Giới thiệu sách Những con chữ qua cầu tâm linh

 

Đọc cuốn sách có tính triết văn

của nhà thơ Triệu Từ Truyền

 

TRẦN XUÂN AN

 

NVTPHCM- Quý nhất ở cuốn sách là tác giả đã dám thể hiện ý thức độc lập về tư tưởng, về tự do sáng tác của bản thân anh. Cao hơn một mức nữa, xuất phát từ đó, anh còn đề nghị các nhà quản lí văn học, nghệ thuật cần phải thông thoáng, chấp nhận sự độc lập về tư tưởng, tự do về sáng tác của nhà cầm bút…

 

I. CHỦ ĐIỂM “MĨ HỌC TRONG THƠ”:

 

1) “Mĩ học trong thơ” là chủ đề của buổi ra mắt cuốn sách mới tái bản của Triệu Từ Truyền: “Những con chữ qua cầu tâm linh” (Nxb. Thuận Hoá, 02-2017). Chủ đề này gợi nhớ đến câu văn nổi tiếng như danh ngôn của Dostoievsky: “Cái đẹp cứu chuộc (giải thoát) thế giới”, vì tự thân mĩ học là khoa học về cái đẹp. Đó là cái đẹp của thế giới tinh thần, trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, với giới tự nhiên; cái đẹp của thế giới vật chất. Đó là cái đẹp của các tác phẩm văn học nghệ thuật… Mĩ học có đối tượng nghiên cứu là cái đẹp, cái xấu, cái thiện, cái ác, cái bi, cái hài, cái anh hùng, v.v., chứ không riêng về phạm trù cái đẹp. Nhưng tất cả các phạm trù mĩ học đó, thể hiện trong tác phẩm văn nghệ, đều có hiệu ứng thẩm mĩ, được soi ngắm với nhãn quan mĩ học. Điều đó có nghĩa là những tác phẩm vạch trần cái thối nát, đê mạt, ghê tởm hay cười cợt châm biếm sự lố bịch, thói điêu ngoa, giả dối, nếu được sáng tác một cách tài tình, đạt giá trị nghệ thuật cao đẹp, đều dẫn đến sự phản tỉnh, hướng con người đến cái thiện, cái đẹp. Cái đẹp còn bao hàm cả cái thiện.

 

Điều đó thường thấy trong tiểu thuyết, kịch và ít nhiều ở thơ, trường ca thơ.

 

Trong thi khúc trữ tình, các thi sĩ chủ yếu viết về cái đẹp ở nghĩa hẹp. Đó là cái đẹp vốn có, tự nó đã toát ra, thể hiện ở cảm xúc, suy tưởng của chủ thể sáng tác và từ đối tượng mà chủ thể hướng tới, phản ánh, như cái đẹp ở giọt sương, ở mái tóc thiếu nữ, ở tình cảm ấm áp bạn bè, ở tình người, ở hành vi cao cả, anh hùng, ở sự kiện lịch sử bi tráng… Thậm chí, nếu phê phán cái xấu, cái ác, cái thấp hèn thì hiện thực đen tối đó cũng đã được cô đặc và nhà thơ cũng đã đồng thời bày tỏ thái độ, cảm xúc thẩm mĩ, trữ tình của mình rồi. Như vậy, tự thân bài thơ phê phán đã hội đủ cả cái đẹp ở thái độ, cảm xúc nhà thơ để thành một chỉnh thể. Tuy nhiên, thơ thiên về ca ngợi, đồng cảm với cái đẹp nhiều hơn.

 

Cảm thụ thơ ca thường là cảm thụ trực tiếp cái đẹp. Còn với tiểu thuyết, kịch, người thưởng ngoạn thường tiếp xúc trực tiếp với nội dung hiện thực với nhiều mặt, gồm cả mặt xấu, đen tối, để rồi phản tỉnh với hiệu ứng là cái đẹp sẽ nẩy sinh trong tâm thức (cảm xúc thẩm mĩ, hướng tới lí tưởng thẩm mĩ), chứ không hoàn toàn trực tiếp tiếp xúc với cái đẹp.

 

Cho dù ở nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, đúng là “cái đẹp cứu rỗi thế giới”, văn chương nghệ thuật cứu rỗi thế giới, giúp cho con người và giới tự nhiên tốt đẹp hơn, nhân văn hơn.

 

Triệu Từ Truyền là nhà thơ, và là nhà thơ trữ tình, chủ yếu viết thi khúc, đoản thi (các bài thơ ngắn). Anh được mọi người biết đến là một thi sĩ. Nhưng ở cuốn sách này, Triệu Từ Truyền xác định ngay tại bìa sách: “Những con chữ qua cầu tâm linh” là một cuốn sách gồm tản văn và tiểu luận về văn học. Buổi ra mắt sách chiều nay lại nhấn mạnh đến “mĩ học trong thơ”. Vậy, với tư cách là nhà thơ, qua cuốn sách này, Triệu Từ Truyền đã bình luận, phân tích như thế nào về vấn đề này, trên bình diện lí luận?

 

2) “Mĩ học trong thơ” là một vấn đề lớn. Việc tập trung vào chủ đề đó trong một cuốn sách, cũng không phải đơn giản, và phải nói thật là rất khó khăn, nếu không khiên cưỡng, áp đặt… Cuốn sách của nhà thơ Triệu Từ Truyền bàn về những vấn đề lớn khác nhiều hơn, do đó, sẽ thiếu hụt khi nhấn mạnh chỉ chủ đề này.

 

Riêng bản thân tôi, tôi chỉ đề cập đến chủ điểm “mĩ học trong thơ” qua việc bày tỏ niềm thú vị của tôi về một số đoạn văn của thi sĩ Triệu Từ Truyền. Đó là những khi anh không bàn những vấn đề triết luận đầy những thuật ngữ, những khái niệm trừu tượng một cách trực tiếp (mặc dù rất cần thiết phải bàn đến), mà nghiêng vào cảm thụ tác giả, tác phẩm để rồi khái quát hoá. Rõ ràng anh có mặt mạnh của tư chất thi sĩ mới viết được thế.

 

Hôm nay, 09-4 dương lịch, chưa xa ngày mất của nhạc sĩ rất tài năng về nghệ thuật ca từ Trịnh Công Sơn, tôi xin được phép trích một đoạn nhà thơ Triệu Từ Truyền viết về cài tâm nhân đạo, nhân văn của nhạc sĩ này: “Thương vay, khóc mướn, cụm từ này chưa lột tả hết tâm thức của nghệ sĩ vĩ đại, trong đó có nhạc sĩ, phần nào nói lên được đặc trưng tri kỉ, tri âm của nghệ sĩ. Còn Trịnh Công Sơn thương hơn người trong cuộc đang thương và khóc nhiều hơn người đang khóc… […] Đứng trước khốn khó của tha nhân, Sơn không quan sát, phân tích mà Sơn lọt thỏm vào nỗi khốn khó đó… […] Nói cách khác, Sơn vừa cùng một dòng tâm thức, lưu giữ nghiệp của mọi người, nhưng Sơn không bị ràng buộc bởi những nghiệp chướng nào đó. Nhờ vậy, Sơn dùng âm nhạc, cái đẹp của âm nhạc cứu rỗi sinh linh. Nói theo minh triết của Đức Phật, Sơn có tấm lòng của Bồ Tát. Sơn là tri kỉ của phận người”.

 

Tôi muốn nói rõ hơn, đó là phận người Việt Nam trong cuộc chiến tranh mà Trịnh Công Sơn gọi là “nội chiến”, còn nhiều người khác gọi là “có tính chất nội chiến”.

 

Phải chăng nhà thơ Triệu Từ Truyền viết về Trịnh Công Sơn, đồng thời qua đó để bày tỏ tâm nguyện của chính mình với quan niệm về cái đẹp, về “mĩ học trong thơ” của chính bản thân? Thi sĩ đâu chỉ thể hiện cái tôi, mà còn viết thay cho bao nhiêu phận người khác nhau nhưng cùng chung nỗi đau, khát vọng của con người.

 

II. MỘT ÍT NHẬN ĐỊNH KHÁC VỀ CUỐN SÁCH

 

1) Tuy cuốn sách được chia làm hai mảng theo thể loại: tản văn và tiểu luận, nhưng theo tôi, nếu xét theo nội dung, kể cả tiểu luận và bài báo, thì có các bài bàn về vấn đề chung, khái quát, và có một ít bài khác bàn về các tác giả, tác phẩm cụ thể. Tuy nhiên, ngay cả ở những bài loại thứ hai này, Triệu Từ Truyền cũng chỉ mượn một câu văn hay một vấn đề của tác giả để bàn đến các vấn đề khái quát mà thôi (ví dụ bài về Nguyễn Tư Giản, bài về Trương Vĩnh Ký, bài về Trịnh Công Sơn). Với bài “Suy nghĩ về câu nói của Nguyễn Tư Giản”, nhà thơ Triệu Từ Truyền bàn về bốn tiêu chí thần, khí, thể, cách để căn cứ vào đó mà xếp thứ bậc cho tài năng của các tác giả. Với bài “Trịnh Công Sơn, tri kỉ của phận người”, anh cũng chỉ bàn về vấn đề thấu hiểu nỗi đau của kiếp người muôn thuở, của người Việt Nam trong chiến tranh, với tâm thức chỉ biết đó là đồng bào ruột thịt, nên Trịnh Công Sơn tri kỉ với tất thảy mọi người, mọi thế hệ, ở mọi nơi. Ở bài “Trương Vĩnh Ký, tương tác của hiền tài”, Triệu Từ Truyền chỉ nhắm đến tài năng trong hoàn cảnh éo le, bi kịch của số phận, và chính sự thể éo le, bi kịch đó lại càng thúc đẩy cho tài năng trước tác của Trương Vĩnh Ký như được nhân lên. Qua các bài tiêu biểu đó, có thể nói dù đi vào tác giả, tác phẩm cụ thể, thì Triệu Từ Truyền dường như chỉ “mượn cớ” để đề cập đến các vấn đề khái quát, còn các tác phảm, tác giả kia chỉ là dẫn chứng minh hoạ.

 

Ở cuốn sách “Những con chữ qua cầu tâm linh” này, nhà thơ Triệu Từ Truyền thiên về tư duy tổng hợp, khái quát trong khi viết “tản văn và tiểu luận”.

 

2) Cuốn sách “Những con chữ qua cầu tâm linh” còn cho chúng ta thấy, chủ điểm được nhà thơ Triệu Từ Truyền quan tâm và thể hiện xuyên suốt cả cuốn sách là tâm linh: “năng lượng tâm linh”, “chiếc cầu tâm linh”… Danh từ “tâm linh” của Triệu Từ Truyền biểu đạt một ý niệm về một dạng tồn tại vô hình đứng giữa khái niệm vật chất của chủ nghĩa duy vật và khái niệm siêu linh của chủ nghĩa duy tâm tôn giáo. Tâm linh của Triệu Từ Truyền gần với ý niệm về phiếm thần thuộc vô thần luận như trong triết học của Spinoza. Và với anh, anh khẳng định: “Cho đến bây giờ, không nên hiểu tâm linh là thuộc tính của một đấng toàn năng siêu hình, dẫn đến hệ quả mê tín, mà tâm linh là một dòng năng lượng không lệ thuộc vào năng lượng vật chất. Cảm ơn mùa xuân cho những đặc trưng về nhận thức mới của vật lí hạ nguyên tử” (sđd., tr.135).

 

3) Cuốn sách “Những con chữ qua cầu tâm linh” của nhà thơ Triệu Từ Truyền chắc chắn còn những vấn đề cần tranh cãi:

 

Trước hết là tranh cãi về danh từ, về thuật ngữ. Chẳng hạn như cụm từ “tâm thức hiện đại” (sđd., tr.54) của anh. Trong đó, “hiện đại” được anh giới thuyết và diễn giải khiến người đọc hiểu là anh đang nói đến những giá trị cổ điển, vĩnh cửu. Đơn cử như cái tâm vượt lên giai cấp, chính kiến, chủng loài, thời đại của Phật giáo, anh cũng như mọi người cho rằng nó thuộc giá trị đạt đến chuẩn mực hay còn gọi là tính cổ điển, tính kinh điển (classique). Nhưng Triệu Từ Truyền lại muốn dùng một từ khác để biểu đạt cái giá trị ấy. Anh khẳng định, ai có cái tâm vô lượng ấy, đều đã đạt đến tầm hiện đại mãi mãi (vĩnh cửu). Hai từ “thể”, “cách” trong câu văn của Nguyễn Tư Giản mà anh trình dẫn để bình luận, cũng sẽ gây ra tranh cãi giữa tác giả và người đọc. “Thể” là thể loại chăng? Là nguyên chất hàm chứa bên trong, so với công năng bên ngoài được gọi là “dụng” chăng? “Cách” là phương thức biểu đạt tu từ chăng? Hay “cách” là khí lượng, phong độ của tác giả? Cao hơn, đó là phong cách sáng tác của tác giả? Đó là ví dụ về những điểm đáng bàn trong cuốn sách này của nhà thơ Triệu Từ Truyền.

 

Ngoài ra, cuốn sách “Những con chữ qua cầu tâm linh” còn có thể gây tranh cãi về một số vấn đề thời sự văn học, tiếng Việt, như văn học Hán – Nôm, chữ quốc ngữ... Dĩ nhiên, chưa bao giờ nhà trường Việt Nam chúng ta rời xa nền văn học Hán – Nôm, cho dù văn học chữ quốc ngữ đã quá thịnh hành, chiếm lĩnh trọn vẹn văn đàn từ đầu thế kỉ XX đến nay. Vấn đề là vỏ chữ và hồn chữ, âm chữ (quốc hồn, quốc âm).

 

4) Mặc dù còn phải bàn cãi như vậy, nhưng cả cuốn sách “Những con chữ qua cầu tâm linh” của nhà thơ Triệu Từ Truyền thể hiện suy tư, ý thức không ngừng tìm tòi, chiêm nghiệm qua sách vở, ý thức kiểm nghiệm từ thực tế sáng tác của mình. Quý nhất ở cuốn sách là tác giả đã dám thể hiện ý thức độc lập về tư tưởng, về tự do sáng tác của bản thân anh. Cao hơn một mức nữa, xuất phát từ đó, anh còn đề nghị các nhà quản lí văn học, nghệ thuật cần phải thông thoáng, chấp nhận sự độc lập về tư tưởng, tự do về sáng tác của nhà cầm bút; và quan chức văn nghệ cần tạo điều kiện cho các tác phẩm mang tinh thần độc lập tư tưởng, tự do sáng tác ấy được hình thành, được ra đời.

 

 

>> XEM TIẾP THẾ GIỚI SÁCH…   

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.