Tin mới Xem thêm

  • Thời giàu là nhà giáo và nghèo vẫn là nhà...

    Bây giờ mọi người đã dần dần quen với cách gọi là “Ngày nhà giáo Việt Nam” chứ thời những năm 1980 trở về trước, ngày 20.11 hàng năm là “Hiến chương các nhà giáo” và đã có một thời các thầy cô cười ra nước mắt: “Ngày hiến cam các nhà giáo…” Sự trùng hợp rất đặc biệt vì “mùa này cam rẻ

  • Tạ Ngọc Điệp - Mưa đầu mùa

    Trời hạn đã lâu lắm, già làng nói chắc phải đi từ vùng này sang bên chỗ vua Lửa mời người về cầu mưa để cho dân làng bớt khổ.

  • Chép lên khoảng trời: Thao thức một miền quê

    Bốn mươi hai bài thơ trong tập thì có tới hơn ba mươi bài thơ Nguyễn Vũ Quỳnh viết về quê hương miền xa thẳm. Nếu kể cả

  • Đấu giá ấn bản đầu tiên Gulliver phiêu lưu ký

    Ấn bản đầu tiên cuốn Gulliver’s Travels (Gulliver phiêu lưu ký) sẽ được bán ra vào tuần tới. Cuốn sách này được lưu giữ cách đây hơn 100 năm tại Ireland, với mức bán ra có thể vượt quá 1,8 triệu bảng, mức giá mà Công ty Sotheby đấu giá vào ngày 7-6-2017.

  • Hồn nhiên Lê Văn Thảo

    Kỷ niệm với anh Lê Văn Thảo còn nhiều, chỉ xin nhớ lại vài chuyện nho nhỏ, thay cho nén tâm hương gửi vong linh một nhà văn

  • Diễn viên Nguyễn Hoàng ra đi ở tuổi 51

    Diễn viên Nguyễn Hoàng đã qua đời lúc 22h ngày 17.11, hưởng dương 51 tuổi. Anh tên thật Nguyễn Văn Hoàng, từng là phóng viên thể thao

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Thế giới sách

Dừng lặng trước dòng sử: Người quản tượng của vua Quang Trung

11.6.2017-11:00

 Tập Người quản tượng của vua Quang Trung

của nhà văn Ngọc Toàn

 

Dừng lặng trước dòng sử

(Tọa đàm tại Hội Nhà văn TP.HCM, ngày 10.6.2017)

 

TRẦN HUY MINH PHƯƠNG

 

NVTPHCM- Đề tài lịch sử luôn là vấn đề lớn, nơi lưu trữ dấu tích xưa oai hùng, bi tráng. Con người và thời đại. Đất nước và mối quan hệ với các nước khác. Những nhân vật đi qua thời đại rồi sống mãi cùng thời gian để hậu thế mãi ngẫm ngợi, có khi tán thán, có lúc oán hờn, lắm khi nhầm lẫn. Bao nhiêu cảm xúc gờn gợn trong ta mỗi khi giở trang sử soi lại ngày… Ôi! Tiền nhân và hậu thế, ngày xưa và ngày nay vẫn đong đầy một tình ái quốc và kiến quốc.

 

Một chiều mưa tháng sáu tại thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu, tôi đang nâng trên tay cuốn sách vừa được Nhà xuất bản Kim Đồng in xong trong tháng 5.2017. Cuốn sách loại giấy nhẹ, gói gọn tổng trang 201, bìa Thịnh Võ, minh họa Bảo Huyên. Bức chân dung một vị tướng đang cưỡi chiến tượng uy dũng kiếm sắc và cờ tung bay trong gió làm tôi dừng lại lòng mình, đọng lại trang sử, tôi kiểm tra lại mình qua hình ảnh Hai Bà Trưng cưỡi voi đánh giặc, rồi bao mảng sử rời rạc dần hiện trong tôi. Lúc này, tôi đọc tiêu đề cuốn sách: “Người quản tượng của vua Quang Trung”. Đây là tập truyện ngắn lịch sử của nhà văn Ngọc Toàn (1939 - 2016). Người đã tái hiện lại những thước phim tư liệu lịch sử sống động qua ngòi bút tài hoa, nhân văn. Tập truyện ngắn có cả thảy 8 truyện: Triệu Đà; Cái chết của Đại Hãn; Yết Đảo; Hai vị tướng trẻ; Cái đuôi sam; Ông chéo ngà, bà rách tai; Lũng Voi; Người quản tượng của vua Quang Trung.

 

Trước hết, tôi ngưỡng nguyện cố nhà văn Ngọc Toàn được nhẹ nhàng, thanh thản, luôn hiện diện ở cõi lành; kính chúc gia quyến của cố nhà văn luôn được bình an, hạnh phúc, thành tựu.

 

Xin chia sẻ những suy nghĩ cá nhân với tập truyện ngắn mang tính lịch sử này, bằng cách nhìn của một người học trò nhỏ, một độc giả nhỏ.

 

***

 

Kể về lịch sử, nhân vật xưa nhưng ngôn ngữ phù hợp thời đại, lời lẽ dung dị, sáng tạo, cách kể chuyện lôi cuốn. Hình ảnh nhân vật sống động dưới ngòi bút của nhà văn.

 

“Triệu Đà” là truyện đầu tiên cũng là tên nhân vật được khắc sâu trong bao lớp người đã từng đọc, học sử. Hình ảnh, lời nói, hành động của tên giặc Triệu Đà thể hiện rõ mồn một dưới ngòi bút tài hoa của nhà văn. Chỉ một vài nét chấm phá nhưng tác giả đã lột tả sâu sắc vấn đề, không chỉ ngày xưa, mà hôm nay đọc để suy gẫm cũng luôn cần trong bức tranh cảnh tỉnh thời đại.

 

Triệu Đà cho Nhâm Ngao uống gói thuốc bột để cái chết đến mau. Nhưng Nhâm Ngao lúc đó nghĩ đó là thuốc trị mau lành vết thương. Khi thuốc bộc phát nhanh, cái chết đến Nhâm Ngao vẫn chưa rõ, thì Triệu Đà đáp: “Ngài khuyên tôi lấy quận Nam Hải, chiếm đất của Thục Phán để thành lập nước. Tôi muốn giúp mưu kế của ngài sớm thành đạt.” Hắn nhận chiếu chỉ giả, nghiễm nhiên đầy quyền lực.

 

Triệu Đà lợi dụng Sử Lộc, kết nghĩa huynh đệ nhằm tăng thêm uy thế, có thêm cánh tay đắc lực dưới trướng phù tá trong việc cướp đất, giết người, thâm sâu cùng tột là cướp nước Giao Chỉ bất chấp mọi thủ đoạn.

 

Dùng vũ lực đánh mãi vẫn không thắng được Thục Phán, chưa chiếm được Âu Lạc nên Triệu Đà đã dùng mưu, đưa con trai là Trọng Thủy cầu hôn công chúa Mỵ Châu, con gái độc nhất của An Dương Vương. Triệu Đà viết cho con trai lá thư không ngoài mưu sâu kế hiểm của danh vọng quyền lực. Như vậy, Trọng Thủy cũng là một con cờ trong bàn cờ thế dưới sự kiểm soát chặt chẽ chẳng chút thương tình của Triệu Đà. Hắn viết cho con trai khi đang ở rể đất Âu Lạc: “Ta đã lên làm vua. Ngôi thái tử vẫn còn bỏ trống. Chiến thắng chỉ đến với những kẻ có lá gan bằng đá. Vinh quang chỉ đến với những người có trái tim bằng đồng. Không tròn nhiệm vụ của kẻ làm con thì coi như vĩnh biệt…”. Dòng thư lạnh lùng, không có một chút nào gọi là tình cảm cha con. Rồi khi Trọng Thủy hối hận, nhận chân giá trị tình cảm vợ chồng, gã gieo mình xuống giếng ngọc, một cái chết cho kẻ chẳng có lập trường, sống đời sống riêng mình, mà chỉ là tay sai của quyền lực, bị lợi dụng trong một cuộc hôn nhân nhằm đánh tráo bí mật nỏ thần để lật đổ vương triều An Dương Vương.

 

Khi biết tin con trai chết, thì Triệu Đà có xúc động hay buồn khóc chăng? Chúng ta đọc lại những câu chữ của nhà văn viết để thấy sự lạnh lùng, tàn độc đỉnh điểm của lão cáo già họ Triệu bị lịch sử muôn đời nguyền rủa: “Triệu Đà lặng lẽ theo tên võ sĩ ra giếng Ngọc. Xác Trọng Thủy nằm ngửa, tay gã còn cầm chiếc lông ngỗng. Triệu Đà xăm xăm bước đến bên thi hài con, hắn thẳng chân đá vào cái xác, hắn mắng: ‘Vì một đứa con gái mà ngươi tự tử. Không xứng đáng là con ta…’.”

 

Khi uy quyền của Đà đến tột đỉnh cũng là lúc con trai chết bởi lời thề độc kết nghĩa năm xưa với Sử Lộc; còn Sử Lộc bị hắn đưa thanh kiếm cho tự xử… Như vậy, người thân không còn, kẻ tâm phúc dưới trướng không còn, sự cô độc của chiến bại từ âm mưu thâm hiểm, ích kỷ đã làm cho cái cười nghẽn đắng của Triệu đà chăng? Không, hắn bắt đầu sợ trước tuổi già, trước sự mong manh của uy quyền, trước những vong nhân báo oán. Hắn ảo giác, hắn hoảng loạn và cái khóc của Triệu Đà kết thúc câu chuyện đầy máu. Cái khóc của lòng trơ tráo không còn ai, không còn gì để bị hắn lợi dụng thêm lần nữa. Cái khóc đó còn vọng mãi với lời nguyền của thời gian…

 

Sử Lộc đầy mưu trí, Trọng Thủy cũng nhờ gien đa mưu gian xảo của cha mà làm được việc cha dặn, nhưng cũng là cái chết hèn. Mỵ Châu cả tin, vì yêu mà mù quáng, không phân trọng khinh của tình nhà mật quốc. Nghe lời đường mật của Trọng Thủy đến nỗi nói trước việc chỉ đường cho “chồng” khi quốc gia có biến để biết nhau mà tìm cho dễ. Nàng có ngờ đâu?! Khi hiểu được tình yêu bị đánh tráo cách làm nỏ thần, bao cơ quan bí hiểm của quốc gia lọt vào tay tình giặc. Sự thức tỉnh phút cuối đời đầy ai oán và lời của Mỵ Châu thốt tự đáy lòng còn vọng mãi ngàn năm. Hôm nay nghe vẫn mới in như hôm nào:

 

“Nàng xuống xuống ngựa, chỉ tay về phương Bắc, nguyền rủa:

 

- Hỡi người Âu Lạc! Đừng bao giờ tin vào bọn giặc phương Bắc lòng lang dạ thú! Chúng nhơ nhớp xấu xa hơn loài sâu bọ. Hỡi người Âu Lạc! Ngàn đời sau chớ mời giặc cướp vào nhà. Những lời ngon ngọt của chúng có chứa nọc đọc của loài rắn rết!

 

Mỵ Châu quỳ xuống đất, mặt ngửa lên trời, hai tay chắp vào ngực khấn:

 

- Trung tín trọn tiết, bị người đánh lừa, xin chết hóa thành châu ngọc để rửa thù này!”.

 

Khi đọc xong đoạn này, tôi đã dừng lặng thật sâu trong câu nói ấy của tiền nhân!

 

Ngày trước, nhà thơ Tố Hữu từng viết về Mỵ Châu:

 

“Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu”.

 

Có lẽ nỗi thống khổ còn trong Mỵ Châu, nước mắt ấy còn mặn muôn đời…

 

An Dương Vương ngủ quên trong vinh quang, thời bình không tôi rèn binh sĩ, quên lời can ngăn của hiền thần võ tướng, vì tình nhà mà quên đi quốc gia đại sự trong quyết định sai lầm đã làm máu nhuộm cả non sông.

 

Nhà văn Ngọc Toàn dồn tâm huyết trong tác phẩm, nhà văn đã vẽ lại bức tranh lịch sử ở một khoảnh khắc mà nhắc nhở muôn đời. Trong phút giây này, tôi dường như thấy tình yêu nước của tác giả dâng tràn theo từng dòng chữ! Kìa, tác giả đang viết, viết, viết… những con chữ bốc cháy cùng ngọn lửa dân tộc con Lạc cháu Hồng vẫn kiên gan cùng thời gian bảo vệ quốc thổ, dựng xây đẹp giàu trong mỗi phút giây.

 

Chúng ta cùng ngẫm lại lời trình tấu của Sử Lộc với Triệu Đà về thuật giữ nước của giặc phương Bắc: “Một là bệ hạ cho hủy bỏ hết trống đồng, vũ khí và cách ăn mặc của người Âu Lạc. Bệ hạ bắt họ theo phong tục người phương Bắc thì họ sớm quên mất tổ tiên. Hai là bệ hạ cho con em người phương Bắc lấy người Âu Lạc càng nhiều càng tốt. Người nước ta đông, nước họ thưa dân, chỉ sau một trăm năm thì mất nòi giống Âu Lạc. Sau này sử sách sẽ ghi bệ hạ là vị vua trong quốc triều của đất nước này.”

Đâu đó chúng ta đã từng nhầm lẫn, đâu đó tuổi trẻ đã tự mình theo mốt trang phục của các nước phương Tây, phương Đông một cách không chọn lọc, đâu đó có sự quên sử nhà thuộc phim Tàu, sử Tàu vanh vách.

 

Nhà văn viết cho thiếu nhi nhưng người lớn đọc vẫn phải giật mình, gật gù và tán thán! Bởi, lịch sử thì có phân biệt tuổi trẻ hay già, của người này hay người kia. Nó là của tất cả chúng ta! Giữ gìn và truyền ngọn lửa dân tộc đẹp đẽ, vinh quang đó là của mọi người!

 

***

 

Sau khi đọc truyện “Triệu Đà”, tôi đã nghĩ về tên sách và có mẩu chuyện ấy. Có lẽ đó là nỗi niềm được nhà văn đặt trọn vào đó chăng?! Tôi đã chọn đọc tiếp câu chuyện cuối “Người quản tượng của vua Quang Trung”. Vua Quang Trung – Nguyễn Huệ là vị anh hùng áo vải cờ đào, từng Nam chinh Bắc chiến, đánh đuổi quân Xiêm La ở phía Nam, đại phá hơn hai mươi vạn quân Thanh ở phương Bắc, lệnh quân thần tốc, đa mưu túc trí xuất quỷ nhập thần khiến bao quân giặc hoang mang, khiếp vía khi có người anh hùng ấy uy dũng ngồi trên lưng voi chiến cùng dân tộc một lòng bảo vệ giang sơn gấm vóc.

 

Nếu ở truyện “Triệu Đà” là ngôn ngữ gãy gọn, đầy hình ảnh, tính cách gian xảo của nhân vật thì ở câu chuyện cuối tập truyện ngắn lại trữ tình, giọng văn chùng, xúc động nhưng ấm áp, đầy tính nhân văn.

Tình người: chủ – tớ, vua – tôi nhưng thấm đẫm nghĩa tình kiểu như huynh – đệ, cha – con.

 

Tình vật: người quản tượng với con voi (tên Ầm) không phân ranh giới của con người với loài vật mà nó như tình cha – con, anh – em, là tri kỷ vượt qua hàng rào ngôn ngữ, là những ngôn ngữ của cử chỉ, ánh mắt, hất tay nhưng cả hai hiểu nhau. Mùi vị ấy được trải qua những lần sinh tử, những lần chiến công oanh liệt, những lần tập dượt, vệ sinh, ăn uống, những khi trốn tránh…

 

Chúng ta sẽ khó kềm nổi những dòng nước mắt cho con vật trung thành với chủ nhân, cho con vật cũng là một chiến sĩ trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc.

 

Người quản tượng kia không cần danh lợi chức quyền, không đòi hỏi gì hơn là “chỉ muốn làm người quản tượng suốt đời” cho Đức Ông – tức vua Quang Trung.

 

Khi ông quản tượng “rút trong túi rút ra một lá cờ điều nhỏ xíu, quay một vòng quanh đầu. Con voi vội quỳ xuống nghe lệnh. Cụ nói nhỏ với nó:

 

- Quỳ xuống làm lễ Đức Ông!”

 

Những người từng là lính Tây Sơn, một thời gắn bó với Đức Ông đã thăm lại ngôi từ đường có đôi câu đối vương mãi cùng non sông:

 

“Hoa thơm nồng đượm khắp non sông

Màu trắng làm sạch bụi bặm của cuộc đời.”

 

“Phải rồi, hoa Huệ có hương thơm và màu trắng. Nhưng nồng đượm cả non sông và làm sạch bụi bặm của cuộc đời thì chỉ có Đức Ông Nguyễn Huệ mà thôi. Đúng rồi. Đây là nơi thờ và cũng là phần mộ của nhà vua.”

 

Chúng ta cùng đọc lại những khoảnh khắc của con voi chiến mang tên Ầm. Con voi ấy là người bạn của người quản tượng, là con vật trung thành của vua Quang Trung, là chiến sĩ nhưng cũng rất “tình người”:

 

“Con voi đang đi bỗng dừng lại, không chịu đi tiếp. Nó vươn vòi hít hơi, rồi rống lên những tiếng rền vang buồn buồn vọng vào dãy đồi xa xa. Ông già thở dài. Đôi lông mày nhíu lại khi ông nhận ra con voi đã dẫn ông đến một bãi tập voi thời xa xưa.”

 

“Ông Ầm biết sắp được ra trận cũng cong vòi rống lên những hồi rộn rã.”

 

“Hỏa hổ phun lửa đỏ rực cả bầu trời phía Nam thành Thăng Long. Đội tượng binh chia làm hai cánh tả hữu xông qua hào lũy, vượt địa lôi tiến lên. Ông Ầm rống lên những hồi dài gọi cả bầy voi chiến cùng diệt những tên giặc đuôi sam. Đàn voi tung vòi vụt tên giặc bên phải, xéo nát tên bên trái…”

 

“Hôm đưa thi hài nhà vua vào Thái Miếu, lão đưa ông Ầm đi theo linh cữu. Hình như nó biết cả. Chiếc vòi thõng xuống, hai tai không buồn ve vẩy. Nhớ đến công ơn Đức Ông và thương con voi, lão không cầm được nước mắt.

 

Từ đó, ông Ầm bỏ ăn. Nó giằng xích, bồn chồn đi lại quanh cái cột. Nó gườm gườm nhìn những người lính đi lại, hay nổi giận, sinh sự với những con voi khác. Chốc chốc nó lại cong lưng, đập tai và mài cặp ngà vào cột. Đôi mắt u uất nhìn về phương xa, nó rống lên những hồi rền rĩ.”

 

Người quản tượng trung thành, con voi chiến cũng trung thành. Người và vật cùng hướng về người anh hùng áo vải cờ đào vua Quang Trung Nguyễn Huệ. Thế mới biết, khi minh quân, tài đức vẹn toàn thì cảm động lòng người và cảm hóa loài vật. Người như vậy được tất cả, sử xanh mãi khắc ghi, năm tháng thêm bóng mầu hương thơm danh tốt.

 

Hình ảnh những đứa bé thích nghe kể chuyện xưa như những ngọn lửa được nối tiếp, chuyển trao và sáng rực của một dân tộc anh hùng, một đất nước dẫu “sáng chắn bão giông, chiều ngăn nắng lửa” thì vẫn nghĩa tình và trung kiên.

 

***

 

Qua hai mẩu chuyện trong tập truyện ngắn, độc giả sẽ khó lòng buông quyển sách. Những câu chữ, nhân vật, mẩu chuyện, chi tiết, hình ảnh như sống động, ngỡ rằng đang thủ thỉ cùng chúng ta, nhắc nhở và chia sẻ nhưng thật nhẹ nhàng, giản dị mà đầy tài hoa của một cây bút đầy trách nhiệm, yêu thương, vinh danh lịch sử. Nhớ người xưa, ngẫm hôm nay càng thêm đong đầy giá trị thời đại!

 

Thành phố Hồ Chí Minh, chiều mưa, ngày 09.6.2017

 

 

>> XEM TIẾP THẾ GIỚI SÁCH…    

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.