Tin mới Xem thêm

  • Bạn đọc và người viết trẻ cùng đi tìm thần...

    Hội nghị Những người viết văn trẻ TP.HCM lần 4 khai mạc sáng 21-6 quy tụ hơn 70 cây bút, với nội dung chính là tọa đàm 'Sứ mệnh văn chương trẻ trước sự đổi mới cuộc sống' nhận được nhiều ý kiến của những người trong cuộc...

  • La Mai Thi Gia hạnh phúc với văn chương

    Hội nghị Những người viết văn trẻ TPHCM lần thứ IV do Hội Nhà văn TPHCM tổ chức diễn ra trong 3 ngày (từ 21-23.6.2017) tại TP.HCM

  • Viết cho những người nghèo

    Càng lớn lên cùng công việc viết lách, tôi bắt đầu đặt cho mình một câu hỏi: “Mình viết để làm gì?”. “Để chia phần trên mảnh đất chữ nghĩa, hay dùng chữ nghĩa để phục vụ?” Tôi tỉnh ngộ khi nhận ra rằng được ơn viết lách, là cách cuộc đời cho chúng ta thêm sức lực, thêm cánh tay để đóng góp lại cho cuộc đời.

  • Đoàn Thị Diễm Thuyên - Tình như chiếc gương...

    Tôi bảo em trong trẻo quá. - Nếu vậy thì thầy đừng làm cho em vẩn đục, dù chỉ là một hạt bụi! Em nói và cười rất vô tư, sự vô tư như vết cắt

  • Phùng Hiệu giây phút được... dại khờ

    Nhà thơ trẻ Phùng Hiệu tốt nghiệp Khoa Mỹ thuật công nghiệp Trường đại học Mỹ thuật TP.HCM, tác giả 3 tập thơ Tình không dám ngỏ

  • Hồ Thuý An nước mắt ướt đẫm nụ cười

    Quán cũ cạnh bờ sông/ Hào sảng gió, dư dả trăng, và sóng./ Mái lá xạc xào/ Trời cao lồng lộng/ Quán ngả nghiêng

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Thế giới sách

Nguyễn Thế Quang - Sự ám ảnh của tiểu thuyết

13.4.2017-18:30

 Tiểu thuyết Câu chuyện Đà Nẵng

 

>> Trang trại Hoa Hồng của Đỗ Kim Cuông

 

Sự ám ảnh của tiểu thuyết

(Đọc Câu chuyện Đà Nẵng của Thái Bá Lợi,

NXB Hội Nhà văn 2016)

 

NGUYỄN THẾ QUANG

 

NVTPHCM- Chỉ có 333 trang sách cỡ 13x20cm, nhà văn Thái Bá Lợi đã tái hiện sinh động công cuộc đổi mới của một vùng đất rách nát sau ngày 29.3.1975, trì trệ cho đến năm 1996 “toàn bộ ngân sách của Đà Nẵng chỉ bằng ngân sách của Công ty Vệ sinh Hải Phòng” nhưng đến năm 2000 đã trỗi dậy về nhiều mặt, có cầu treo quay lớn nhất, độc nhất của Việt Nam và Đông Nam Á, trở nên “thành phố đáng sống nhất Việt Nam.”

 

Nhân vật chính là Ba Danh - được lấy cảm hứng từ Chủ tịch thành phố Nguyễn Bá Thanh. Cùng với những bước đi đầy nhọc nhằn và quyết liệt của anh: từ Giám đốc Sở Nông nghiệp lên làm Chủ tịch thành phố Đà Nẵng từ hồi còn thuộc tỉnh Quảng Nam rồi đến Chủ tịch thành phố khi trực thuộc Trung ương là số phận bao người, phần lớn là cư dân gốc đủ mọi tầng lớp, có cả người từ xa đến kể cả người nước ngoài, mỗi người mỗi nét tính cách khác nhau với bao cảnh ngộ vui buồn, cùng chung sức xây dựng thành phố, tạo nên một diện mạo mới nhưng cũng tiềm ẩn bao điều đổ vỡ, bao hệ lụy đã và đang xảy ra xáo động lòng dân và ám ảnh người đọc mãi không thôi.

 

Luôn cảm nhận quá khứ “quá bi tráng và hào hùng” của quê nhà đè nặng trên vai mình, gắn bó với những người dân phải chịu đựng những điều “vượt ra ngoài cái bình thường” đang vật lộn với đời sống, Ba Danh thấy “có trách nhiệm lớn lao phải xây dựng nó.” Là con người hành động, có tầm nhìn xa, với tính cách quyết liệt, biết dựa vào dân, anh đã cùng mọi người ngày đêm dồn công sức tạo nên cục diện mới cho sự phát triển của thành phố. Bao nhiêu vùng, bao người dân quý tin anh vì anh đã biết cùng họ làm sống dậy và phát triển tốt kinh tế cho nhiều vùng, xóa bỏ bao phiền hà và cả bất công đè lên đầu lên cổ họ, đem niềm vui cho bao kẻ bất hạnh, lầm lỗi. Ông già chủ quán nói với mọi người “Tui sống gần hết đời người ở đất này, trong các người cầm quyền, thấy Ba Danh làm được hơn cả.” Thế nhưng, ông Tam nhỏ - Phó Bí thư thường trực Thành ủy gợi ý cho Ba Danh nên ra Trung ương làm Thứ trưởng…

 

Ba Danh biết có những dấu hiệu chẳng lành, nhưng vẫn quyết trụ vững, cùng bao người làm cho Đà Nẵng ngày càng khởi sắc. Thế nhưng lực lực lượng chống lại anh ngày càng lớn. Trần Dạ - là bí thư chi bộ giỏi, lớn lên bên sông Hàn, có quan hệ tốt với mọi người dân ở đây đã đau đớn nhìn thấy “thời thế điên đảo, bạn bè gặp nạn.” Cả thành phố đi đâu cũng nghe nói chuyện Ba Danh. Anh nói với Xuân Thông: “Thôi, chiều nay không nói chuyện Ba Danh nữa. Rùng rợn lắm!” Kỹ sư Quý - người lính, người kỹ sư hiểu biết và từng trải, từ miền Bắc vào, bao ngày dốc sức xây dựng Đà Nẵng, đã phải hỏi Trần Dạ: “Theo bác, chúng ta đang sống ở thời đại nào?” Dạ không trả lời được. Quý trầm ngâm: “Thời vua chúa không phải vì không có vua…” Phó bí thư Thành ủy Ba Danh hỏi đồng chí của mình: “Ông Dạ, ông thấy người cộng sản trong chiến tranh với người cộng sản bây giờ có gì khác nhau không?” Trong ngày đại lễ khánh thành cầu qua sông Hàn thì Văn Minh - kỹ sư, chủ doanh nghiệp xây cầu bị bắt, trong xe “còn hai tấm bằng khen, một của Chính phủ, một của thành phố về thành tích xuất sắc cho sự phát triển của Đà Nẵng”. Mấy ngày sau, Ba Danh phải sang resort F nói với Phó Giám đốc Vinh: “Ông cho tôi nghỉ mấy ngày… Không phải nghỉ mà núp… Núp pháo, pháo bầy”. Vinh hỏi ra thì mới biết: Có đến 5 cơ quan chức năng - toàn là những người đồng chí của anh đề xuất bắt anh!

   

Hiện thực Đà Nẵng với những nhân vật nổi tiếng một thời, ai cũng biết. Thế nhưng, biết dựa vào đặc điểm của tiểu thuyết, nhà văn Thái Bá Lợi cho dừng lại ở đó, để chỉ ra những khả năng tiềm ẩn hoặc đã và đang xuất hiện như một sự cảnh báo để người đọc suy ngẫm. Một nghịch lý đang xẩy ra: người có công lớn vực dậy cả một thành phố rách nát, trì trệ hơn hai mươi năm có thể mất chức! Anh sẽ bị bắt? Không bị bắt? Không ai biết được! Chỉ biết rằng: đang đợi ý kiến của Bộ Chính trị? Bộ Chính trị là nơi có quyền lực cao nhất quyết định điều này. Vậy chiều hướng sẽ đi đến đâu? Thành phố sẽ tiếp tục đi lên hay sẽ rơi vào rối loạn và suy thoái. Mọi người lo lắng!? Mọi người hy vọng!? Kết cục sẽ ra sao? Không ai trả lời được! Tác giả cũng không hé ra một tia sáng nào? Câu hỏi cứ đọng lại trong lòng người đọc, gợi lên một trường liên tưởng rộng lớn. Họ nghĩ đến Đà Nẵng, nghĩ đến vùng mình, bao vùng khác những cuộc tranh giành lợi ích nhóm đã, đang và sẽ xẩy ra ngày càng quyết liệt và hậu quả khôn lường của nó… Chúng ta sẽ đi về đâu? Trách nhiệm thược về ai? Chúng ta phải làm gì? Các câu hỏi đó ám ảnh chúng ta mãi không thôi. Những trang sách của nhà văn Thái Bá Lợi đã đặt ra những vấn đề cấp bách, nóng hổi của đời sống. Nhà văn đã dùng văn chương để tham gia vào cuộc sống dữ dội đang diễn ra.

  

Câu chuyện Đà Nẵng không dừng lại ở cuộc đấu tranh đầy nỗ lực để vực dậy một thành phố rách nát sau chiến tranh mà còn đặt ra những vấn đề sâu sắc, cốt yếu hơn. Cùng với cuộc chiến giữa những đồng chí làm cho những điều tốt đẹp có nguy cơ tan rã thì sự ngăn cách giữa những con người cùng sống trong một nhà, một vùng đất bị chia cắt, bị đẩy về hai phía đối lập suốt ba chục năm qua (1954-1975) vẫn chưa được xóa bỏ. Thu - một cô gái đẹp, giàu năng lực và nhân hậu luôn bị ám ảnh về tội ác của cha mình - một sĩ quan Cộng hòa có thể đã tra tấn Khiết và bao người khác nơi trại tù Côn Đảo. Cô yêu Khiết. Khiết yêu cô. Biết rằng “họ không thể thiếu nhau” nhưng sự mặc cảm về tội lỗi của quá khứ đã không cho họ làm nên tổ ấm. Bà Mẹ nhân từ đành bất lực nhìn hai đứa đi vào nương mình nơi cửa Phật! Tại sao, chúng ta không làm gì để đưa những người con tuyệt vời ấy về với cộng đồng, tạo nên một tổ ấm hạnh phúc?! Tương lai của giống nòi Lạc Hồng sẽ đi đến đâu? Lại thêm một nỗi ám ảnh chúng ta!

  

Viết theo lối truyền thống, những số phận các nhân vật, những câu chuyện Đà Nẵng đan dệt vào nhau một cách rất khéo tạo nên tầng tầng các lớp, tạo  nên những hiệu ứng thẩm mỹ cao. Nhắc đến Thu, Khiết, ta nhớ đến Kazik - người Ba Lan miệt mài trùng tu tháp Chàm Mỹ Sơn, phát hiện Hội An là kho vàng ròng vô giá, “tài sản của nhân loại”, có bao dự định tốt đẹp khôi phục các giá trị văn hóa cho mảnh đất này. Công việc đang dở dang thì Kazít đột ngột chết. Bảo Thường - nhà nghiên cứu văn hóa từ Hà Nội vào cũng bỏ ra Bắc rồi mất hút. Còn Thầy Hạ “một nhà nghiên cứu sâu sắc về Hội An”, các viện sĩ quốc tế kính nể mà “ông viện sĩ quê Quảng Nam lại quên thầy.” Già lắm rồi, thầy vẫn sống lặng lẽ, phải làm thêm nghề đóng thuê sách cũ mới đủ sống! Mất Đất Nước có thể giành lại được nhưng mất Văn hóa là mất cả Dân tộc, mất nước. Kho tàng văn hóa tầng tầng lớp lớp của Xứ Quảng đang mất dần, ai tìm, ai giữ được? Lại thêm những câu hỏi xoáy vào lòng người, lại dâng lên nỗi ám ảnh da diết.

  

Rồi câu chuyện của những nhân vật khác như ba người thợ xay đá Ba, Nhì, Lệ sống nhiều năm ở Đà Nẵng rồi chia tay nhau ai về nhà nấy, chuyện kỹ sư Quý từ nơi xa đến làm cầu rồi mua nhà, ở lại Đà Nẵng vì rất yêu mảnh đất này và cũng “để công an gọi là đến được ngay,” chuyện tướng Nguyễn Chơn tâm sự “mình đã thuộc về qua khứ”… đều gợi nên bao điều trong lòng bạn đọc.

  

Viết theo lối truyền thống, đưa nhiều nhân vật đủ các tầng lớp, dù chính hay phụ, dung lượng và tần số xuất hiện nhiều hay ít, mỗi người mỗi vẻ đều có vai trò của mình, đều có những nét riêng nổi bật, không lẫn lộn, không bị xóa mờ, đó là một thành công rất đáng nể của nhà văn Thái Bá Lợi. Qua mỗi trang sách, người đọc khó có thể thấy nhà văn ở đâu. Anh lặng lẽ tung các nhân vật ra đúng lúc cần thiết, để các nhân vật tự bộc lộ tâm can của mình. Không một lời dắt dẫn thế mà dụ được người đọc đi vào tầng tầng lớp ý của mình, dấy lên những câu hỏi da diết, những nối ám ảnh khôn nguôi.

   

Câu chuyện Đà Nẵng cũng là câu chuyện của mọi miền, nên tìm được sự quan tâm và cộng hưởng của mọi người. Gấp sách lại, ta thấy một Thái Bá Lợi giản dị, kiệm lời nhưng trái tim cháy bỏng những khát vọng nhân sinh, một tinh thần trách nhiệm cao của một nhà văn muốn đem văn chương tham gia vào cuộc sống nóng bỏng và dữ dội của dân tộc. Câu chuyện Đà Nẵng là thành công xuất sắc của anh.

 

 

>> XEM TIẾP THẾ GIỚI SÁCH…    

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.