Tin mới Xem thêm

  • Tích cũ dạy con

    Tôi giở những câu chuyện cổ ra định lấy đó làm bài học cho con. Bỗng tôi giật mình. Tôi nhận ra mình không thể dạy cho con cách vẽ mười con giun trong cuộc thi vẽ của Trạng Quỳnh. Tích xưa chuyện cũ vốn được xem là kho báu trong văn hóa người Việt. Ở đó, vừa chất chứa niềm tự hào về ông cha, vừa có những bài học thâm thúy về trí thông minh, về cách ứng xử.

  • Người đương thời Thơ mới bàn về thơ Huy Cận...

    Từ bốn năm trước khi in tập thơ Lửa thiêng (NXB Đời nay, Hà Nội, 1940), Huy Cận đã có thơ trên các báo Tràng An, Sông Hương

  • Báo chí kết nối xã hội

    Trong khi chúng ta đang thảo luận, loay hoay về ứng xử với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng 4.0) thì Thung lũng Silicon đang thao tác

  • Chùm thơ Haiku của Hà Thiên Sơn

    Trăng mờ/ Hơi thở nhẹ/ Ngực em đang rằm.// Đồi cát/ Dấu chân em/ Ngoài kia biển động.

  • Dương Tử Giang sống chết với nghề

    Nhà báo Dương Tử Giang (1914 - 1956) tên thật là Nguyễn Tấn Sĩ, người Bến Tre, chính thức bước vô làng báo vào tháng 8-1943 khi cộng tác

  • Chúc mừng Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam

    Hàng năm cứ đến ngày 21.6, chúng ta cùng chào mừng kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, gửi những lời chúc tốt đẹp nhất đến những người cầm bút của làng báo, trong đó có nhiều nhà văn đồng thời cũng là nhà báo.

Chân dung Xem thêm

  • Dương Tử Giang sống chết với nghề

    Nhà báo Dương Tử Giang (1914 - 1956) tên thật là Nguyễn Tấn Sĩ, người Bến Tre, chính thức bước vô làng báo vào tháng 8-1943 khi cộng tác

  • Tôn Nữ Thu Thủy dạy con sống nghĩa tình

    Con trẻ luôn nhìn vào tấm gương của cha mẹ mà làm theo. Mình sống đàng hoàng, tử tế thì các con cũng học được cách phân định những điều đúng sai

  • Trần Tuấn viết trong bóng tối…

    Nhà báo, nhà thơ Trần Tuấn (báo Tiền Phong) gắn bó trang viết của mình với mảnh đất Đà Nẵng, mảnh đất của những sự kiện lịch sử, những sự kiện

  • Cao Linh Quân người lữ hành lặng lẽ

    Trong số các nhà văn từng sống và viết ở Nha Trang, Khánh Hòa, thì Cao Linh Quân là một gương mặt khá đặc biệt, nếu như không muốn nói là lạ lẫm

Thế giới sách Xem thêm

Thế giới sách

Nhớ rất nhiều là nhớ được bao nhiêu - Huyền Thư

14.12.2017-18:00

Tập thơ Nhớ rất nhiều là nhớ được bao nhiêu của Huyền Thư

 

Nỗi buồn trắng của

một hồn thơ con gái hiền ngoan

 

PHẠM XUÂN NGUYÊN

 

NVTPHCM- Cô gái hiền ngoan ấy thể hiện cảm xúc thơ của mình một cách nhẹ nhàng, sâu lắng, như lời thầm thì nhỏ nhẹ. Tôi thích những bài thơ ngắn của cô, thường là lục bát, có cái chơi vơi, mông lung của những tình cảm, tâm trạng khó diễn tả thành lời, hơn một vài bài có sự kể lể, giãi bày…

 

Tôi không biết Huyền Thư trước tập thơ này.

Và sau tập thơ này tôi cũng chưa biết Huyền Thư.

Tôi chỉ đọc thơ cô để cảm nhận về cô.

 

Cái trắng ấy đến từ hoa loa kèn của Hà Nội nhưng từ trong nỗi nhớ đã thành một sinh thể “trút nốt nghẹn ngào mà trắng buốt mùa sang”. Hai chữ “trút nốt” nghe sao nặng nhọc và nhẫn nhịn. Từ sinh thể cây sang sinh thể người, cái trắng của hoa đã thành “nỗi buồn trắng trong nằm ngay lòng bàn tay con gái”. Tôi không thích chữ kép “trắng trong” ở đây dù có thể nó có ý chứ không phải quen tay viết, nó mòn, lẽ ra “nỗi buồn trắng” là đủ sâu và ngấm. Và tôi đọc thấy trong tập thơ này “nỗi buồn trắng” của tác giả.

 

Huyền Thư là ai?

 

Huyền Thư  “con mười lăm bé nhỏ rời làng/ quán trọ trần gian dựa nơi nào cũng mỏi” (sao lại có một câu thơ như của một người đã sống hết cả đời thế này!), đến khi trưởng thành ước được “ngồi ngay trên mảnh đất nhà mình để chắc rằng đã từng thuộc về đâu”. Bởi cô nhận ra “trưởng thành là sự thỏa hiệp xa rời những cánh đồng đất nâu”. Và bởi “trưởng thành không giống như âm điệu mẹ từng hát đôi câu”. Tuổi trưởng thành như thế, với Huyền Thư trong thơ, là sự cắt lìa và trở về. Cả phần 4 tập thơ Huyền Thư dành cho “Đôi mắt trẻ thơ, mẹ và làng’ với những hồi ức và hoài niệm mang theo cả đời người từ tuổi nhỏ ra đi.

 

Mình vẽ tuổi mình mà vô tình vẽ lên tuổi mẹ vài vết đồi mồi và nhăn nhúm chân chim

Lớn tồng ngồng lên mới nhớ ra mảnh đời già còn lấm lem bùn đất

Đời đãi bôi nên trong ta chỉ bóng làng là thật

Tuổi người chân đất ôm gánh rạ đầy mà nuôi lớn tuổi ta

 

Khổ thơ này trong bài thơ có cái tên rất âm vọng và gợi “Chắt nắng đông ra hong lại tuổi đời”. Huyền Thư mới ngoài hai mươi, nhưng “tuổi hai mươi không phải hai mươi tuổi” (Huy Cận). Cô bé tuổi mới lớn rời nhà cha mẹ, rời làng quê ra nước ngoài hồi nào giờ đã thành một thiếu nữ vẫn nuôi lớn trong mình cảm thức tiếng Việt và cảm xúc đồng quê để viết nên những bài thơ nặng trĩu nhớ thương, hoài cảm. Nặng đến nỗi người thơ như muốn chất chứa, nói cho bằng hết trong thơ những gì mình ghi nhớ được ở tuổi ra đi. Và bàng bạc, lan tỏa là nỗi buồn.

 

Con đã đi những tháng ngày mê mải

Tóc mẹ đan thêm bao sợi khói chiều

Cha thường ngồi phía đầu hè đăm chiêu

Sao con không để tóc dài như vạt khói?

Nhà thơ trẻ Huyền Thư

 

Huyền Thư đã bước đi trong đời, và trong thơ, từ đó, với hành trang là lời mẹ dặn: “Lẽ trần gian là họa ai gây thì người ấy trả / Nên đừng thấy lạ / cứ hiền và cứ ngoan”. Một lời dặn đơn sơ mà gan ruột của người mẹ cho con gái bước ra thế giới một mình. Tập thơ vì thế đọc thấy cả sự làm nũng của một người con với cha mẹ, của một cô gái với đất và người ở những nơi cô đã đến, đã sống. Ngay cả khi cô thốt lên Hà Nội của anh già quá, và bắt đầu quãng đời hai mươi của mình bằng “đội khăn tang lên đầu” cho những tháng ngày đã qua. Ờ, lắm khi người trẻ thử già nua để được hồn nhiên. Hay hồn nhiên một cách già dặn.

 

Cô gái hiền ngoan ấy thể hiện cảm xúc thơ của mình một cách nhẹ nhàng, sâu lắng, như lời thầm thì nhỏ nhẹ. Tôi thích những bài thơ ngắn của cô, thường là lục bát, có cái chơi vơi, mông lung của những tình cảm, tâm trạng khó diễn tả thành lời, hơn một vài bài có sự kể lể, giãi bày. Hai phần thơ “Nếu anh về Hà Nội” (2) và “Chờ dịu dàng ở Châu Đại Dương” (3) như đối xứng nhau, giăng mắc nhau, lan tỏa một “nỗi buồn trắng”. Trắng đến thành không màu, trắng xóa, tạo nên bầu khí hậu thơ Huyền Thư. Đến “Loa kèn bạc lòng ra trắng” thì nỗi buồn đã thành nỗi đau.

 

Vậy “nhớ rất nhiều là nhớ được bao nhiêu” có thể là một câu hỏi cho người, nhưng phần nhiều là câu tự vấn mình. Tôi đọc được ở đây một khát khao tâm tình và sẻ chia, cả một day dứt, phân vân nữa. Nhớ đến bao nhiêu là nỗi nhớ đã nhiều? Đảo ngược nhan đề tập thơ có lẽ lại đưa đến một cách đọc thơ khác. Tự nhiên tôi nhớ hai câu thơ vừa cụ thể hình ảnh vừa bâng quơ tình cảm của Xuân Diệu: “Ngẩng đầu ngắm mãi chưa xong nhớ / Hoa bưởi thơm rồi: đêm đã khuya” muốn tặng tác giả ở vùng nhớ thôn quê của cô.

 

Thơ Huyền Thư trước khi ra tập đã được đăng tải trên Facebook của cô và có được một cộng đồng đọc của mình. Tôi muốn Huyền Thư sẽ tiếp tục viết thơ, có sự giản dị hơn, sâu đằm hơn.

 

Hà Nội 19.10.2017

 

 

>> XEM TIẾP THẾ GIỚI SÁCH…     

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.