Tin mới Xem thêm

  • Phạm Sỹ Sáu - một đời thơ lính

    Từng là bộ đội tham gia bảo vệ biên giới và làm nhiệm vụ quốc tế trên nước bạn, nhà thơ Phạm Sỹ Sáu - Phó Chủ tịch thứ nhất

  • La Mai Thi Gia được sinh ra từ thơ

    Mê Gia từ cái tên "La Mai Thi Gia”, cái tên mà mọi chữ đều là thanh ngang, dự cảm cho một cuộc đời rất suôn sẻ và cũng rất nên thơ

  • Xuân Diệu bỗng dưng bị... 'xét lại...

    Trường Đại học Văn hóa sẽ dựng vườn tượng để tôn vinh 5 văn nhân đã khuất: Đặng Thai Mai, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân, Tô Hoài trong khuôn viên Khoa Viết văn - Báo chí (Trường Viết văn Nguyễn Du trước đây). Mặc dù chỉ là những bức tượng bán thân không phải tượng đài tốn kém nhưng câu chuyện này cũng bị đem ra “soi”. Người bị “soi” kỹ nhất chính là “ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu.

  • Chùm thơ mùa hạ của Bùi Đức Ánh

    Không ai cất tiếng gọi/ Mùa hạ vẫn trở về/ Nắng bất thần bên vườn năm ngoái/ Để màu sen nhắc nhớ một đam mê

  • Lịch sử thăng trầm trên tấm biển tên đường

    Tốc độ đô thị hóa ngày càng lớn, số lượng tuyến phố mới ngày càng nhiều, số tên người được chọn ngày càng hiếm nhưng ngược lại nhu cầu đưa ra những đề cử không giảm, tạo áp lực đến từ các dòng tộc, các đơn vị, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp... Đã thấy hiện tượng “chạy” đặt tên đường phố, rồi những khiếu nại, và không phải không có những tên phố mà chẳng mấy ai biết là ai

  • Trách nhiệm cá nhân

    Đôi lúc, tôi thậm chí tự hỏi, những câu như “Bên cạnh đó, còn tồn tại thiếu sót trong công tác quản lý...” có đúng ngữ pháp tiếng Việt không

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Thế giới sách

Như núi đồi nối tiếp nhau…

28.3.2017-07:10

 Tập thơ Những ký âm ngân

của Nguyễn Thị Thanh Long

 

Như núi đồi nối tiếp nhau…

 

ĐẶNG HUY GIANG

 

NVTPHCM- Sau “Một milimet” (2011), “Nửa vòng tay” (2013) đến “Những ký âm ngân” (2016), Nguyễn Thị Thanh Long tuy vẫn đầy đặn chân thành, cảm xúc và nữ tính, nhưng tỏ ra có ý thức bứt phá hơn trong cuộc chạy đua với chính mình...

 

“Viết về cái gì” nhìn chung không quan trọng bằng “viết như thế nào”. Hay nói một cách khác: “Viết về cái gì” chỉ là bề nổi, còn “viết như thế nào” mới thực sự là bề sâu.

 

Một nhà thơ khi làm thơ về đề tài màu trắng mà câu chữ chỉ mới chỉ dừng ở mức độ hoặc cấp độ so sánh, liên tưởng thông thường, kiểu như: Trắng như mây trắng, trắng như là khói trắng, trắng như là giấy trắng… thì không có gì mới. Người đọc muốn tìm xem cái màu trắng của nhà thơ có gì khác với màu trắng thông thường và không giống với màu trắng mà ai ai cũng hình dung ra kia.

 

Tương tự, một nhà thơ khi viết về đề tài biển mà chỉ nêu: Biển rộng, biển sâu, thủy triều lên, thủy triều xuống, sóng nhỏ, sóng to, sóng bạc đầu… tức là biển của nhà thơ cũng giống như biển của mọi người mà thôi.

 

Bởi vậy, sinh thời, nhà thơ Phạm Tiến Duật có lần nói: “Viết về thuộc tính của một vật, một sự vật mà nó vốn có, tức là chưa nói gì”.

 

Chưa kể, người đọc còn đòi hỏi: Đằng sau cái màu trắng ấy, biển ấy ẩn chứa gì, muốn gửi gắm gì, muốn ký thác gì nữa kia. Còn như anh viết về màu trắng và biển  mà chỉ để nói về màu trắng và biển theo lối miêu tả, mô tả thuần túy… thì thi ca sinh ra để làm gì nhỉ?

 

Viết đến đây, tự dưng tôi chợt nhớ đến hai câu thơ trong một tứ thơ viết về biển của A. Blok – nhà thơ lớn người Nga – thế kỷ 19: Biển ích kỷ vô cùng/ Vì nhận hết về mình mọi dòng chảy. Rõ ràng ở đây, biển của A. Blok không giống biển hào hiệp, bao la của số đông. Và biển của A. Blok là một thứ biển khác biệt.

 

Và từ lâu, tôi đã đọc thơ trong tâm trạng và đòi hỏi như vậy, như một thói quen, trong đó có tập thơ mới nhất mang tên “Những ký âm ngân” (Nhà xuất bản Văn hóa Văn nghệ quý 4 năm 2016) của Nguyễn Thị Thanh Long.

  

Tôi đọc ra được ký ức tuy thiếu thốn mà ấm áp, mang tâm lý “no đói có nhau”: Mẩu khoai nướng quê nhà hôi hổi/ Mùi thảo thơm đắp đổi bao mùa đói (“Nhành san hô”). Tôi đọc được sự chịu đựng bền bỉ lạc quan của người phụ nữ Phú Thọ nói riêng và người phụ nữ Việt Nam nói chung: Mẹ xâu nhẫn nại kết hoa tháng ngày (“Mẹ”). Tôi đọc ra được tình cảm của một người con với một người mẹ: Hai tay con dư một vòng tròn (“Vườn con gái”). Tôi đọc ra được thân phận người trong thân phận lục bình: Thương sông mấy phận lục bình/ Rủi chìm may nổ lênh đênh kiếp người (“Mơ xuân”). Tôi đọc ra được sự giữ chân tha thiết và không kém phần lãng mạn của một tình yêu: Về đi về đi anh/ Kẻo câu hò mắc cạn/ Ngược dòng cá lẻ bạn/ Điên điển vàng mênh mông (“Vàng mênh mông”). Tôi đọc ra được cái quá khứ không dễ dàng chối bỏ của mỗi người: Ngày hôm qua vẫn điềm nhiên tồn tại trong mỗi chúng ta/ hoài niệm/ những yêu thương muốn níu kéo trong đời/ những nỗi buồn mà ta trốn chạy/ lại cứ theo ta (“Hoài niệm”). Tôi đọc ra câu hỏi không dễ có câu trả lời: Đỏ bao nhiêu ớt thì cay/ Vàng bao nhiêu lá thì đầy mùa thu? (“Hóa thân”); Mưa tức tưởi/ nắng đành hanh/ bao nhiêu bến đợi thì thành tình yêu? (“Trăng vỡ”); Có giọt nào rơi phía em không? (“Có giọt nào rơi phía em không?”)…

   

Đó là những câu thơ đáng nhớ, tương đối đa chiều, có phần phức hợp, nhưng vẫn quy về một mối ở tâm thế. Đó cũng là những chi tiết thơ rất đáng quan tâm. Còn được về tổng thể theo đơn vị bài, theo tôi, phải kể đến: “Mắc cạn ở Cà Ty”, “Những tháng ngày Khau Vai”, “Trăng vỡ”, “Hợp pháp”, “Bốn bánh xe lăn”…

    

Chị tỏ ra rất sòng phẳng khi giúp ta phân biệt giữa vợ chồng thực sự và vợ chồng trên danh nghĩa hợp pháp. Vì thế mà trong “Hợp pháp” mới có câu kết giống như một lời than thở khiến độc giả giật mình: “Còn lại ngôi nhà/ và vợ chồng/ hợp pháp”.

   

Chị tỏ ra trân trọng tình yêu và giúp ta có cái nhìn “không phân biệt”, “bình đẳng” trong tình yêu mà trong trường hợp này là tình yêu của hai người khuyết tật đã có tuổi. Chính vì thế mà tôi tin “Bốn bánh xe lăn” là một tứ thơ độc đáo và hết sức cảm động: “Chiều chiều/ một người đàn ông/ một chiếc xe lăn/ một người đàn bà/ một chiếc xe lăn…/ hai mái đầu như nắng/ một tâm tình như mưa/ Chỉ có gió mới biết/ họ gần nhau thế nào/ chỉ có nắng mới biết/ họ bên nhau ra sao/ Những ngã ba, ngã tư mọi con đường/ bỏ lại đằng sau/ bốn bánh xe lăn/ náo nức…”

    

Sau “Một milimet” (2011), “Nửa vòng tay” (2013) đến “Những ký âm ngân” (2016), Nguyễn Thị Thanh Long tuy vẫn đầy đặn chân thành, cảm xúc và nữ tính, nhưng tỏ ra có ý thức bứt phá hơn trong cuộc chạy đua với chính mình.

    

Chị mong muốn “nấp vào thơ” để “thơ dệt thành lụa”, để “thơ bùng thành lửa” và hướng tới khát vọng: “Núi đồi nối tiếp nhau cái sau lại cao hơn cái trước” như những ý thơ được trích ra từ “Tự vấn” và “Những ký âm ngân” vậy.

 

 

>> XEM TIẾP THẾ GIỚI SÁCH…    

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.