Tin mới Xem thêm

  • Bạn thuở chăn trâu

    Tiến người cùng xóm, kém tôi một tuổi nhưng học sau hẳn một cấp học. Nó khổ, mẹ nó người Nam, sinh nó được 3 tháng thì bỏ đi mất tích vì bố là người nát rượu hay đánh đập bà. Bà điên hay giả điên không biết, nhưng rồi bà rũ tóc đi khỏi nhà, bỏ lại đứa con đỏ hoe. Nó được cho đi làm con nuôi từ đấy

  • Đừng vẽ chân cho rắn

    Không phải năm nay, những năm trước dịp Giỗ tổ đã có một số người lên tiếng về khu tưởng niệm Vua Hùng ở khu công viên Đồng Xanh, xã An Phú, Pleiku, Gia

  • Nguyễn Trí - Đứng trên đôi chân của mình

    Tôi nói nơi đến và ngã giá. Xe lao đi. Lại dừng đón khách và tiếp tục. Một khách trạc tuổi tôi ngồi song song, mũ tai bèo quạt lia lịa xua cái

  • Hoàng Vũ Thuật & chiếc ghế bỏ trống

    tấm thảm mùa hè trải bên cát mặn/ khoanh từng ô/ anh thường tới đây cạnh con lăn xi măng trườn ra biển/ trong tiếng rú tăng tốc bụi mù chở theo đủ loại/ nhọc nhằn/ đôi mắt đen láy sau cốc rượu vang/ vắng người năm trước/ đàn chim bay qua rớt xuống tiếng kêu thảng thốt

  • Huỳnh Phương Đông & vẻ đẹp ký ức bi tráng

    Họa sĩ Huỳnh Phương Đông là một trong những tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, tình yêu và sự hăng say lao động nghệ thuật. Những sáng tạo của ông góp phần cho sự phát triển của mỹ thuật hiện đại Việt Nam…

  • Nguyệt Nguyệt viết văn trên giường bệnh

    Chưa một lần được đến trường, chữ nghĩa em có được là kết quả của những tháng ngày tự học trên giường bệnh. Thế nhưng em lại là tác giả

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Thế giới sách

Những tiểu luận văn học và những bài viết khác

18.12.2010-15:30

 

Những tiểu luận văn học và những bài viết khác

của Nguyễn Lộc

 

LA SƠN

 

Các bài viết của Nguyễn Lộc bộc lộ rõ một nhân cách khoa học, một tiếng nói trung thực, thẳng thắn và niềm say mê khám phá cái mới trong mỗi trang văn.

 

Trong suốt nửa thế kỷ vừa qua, nhiều thế hệ sinh viên ngành văn và bạn đọc đã biết đến các công trình nghiên cứu chuyên sâu của PGS. Nguyễn Lộc như về thể loại ngâm khúc, hệ thống truyện thơ Nôm, văn học Tây Sơn, nghệ thuật Hát bội, tác gia Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều...

 

Đặc biệt giáo trình văn học sử có tên Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX) được coi là bộ sách "chất lượng cao", có ý nghĩa qui chuẩn quốc gia và qua ba mươi năm được tái bản tới tám lần đã chứng minh những ảnh hưởng và tầm quan trọng của bộ sách trong đời sống học thuật và sự nghiệp giáo dục, đào tạo ngành văn bậc cao ở Việt Nam.

 

Nói riêng tập sách Những tiểu luận văn học và những bài viết khác là sự tập hợp 26 mục bài viết của nhà giáo, nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc suốt từ năm 1957 đến thời gian gần đây. Ngay một mục bài được viết vào giai đoạn đầu Góp mấy ý kiến về quyển "Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam" (Quyển I)(Tạp chí Nghiên cứu Văn - Sử - Địa, số 41, tháng 6-1958) đã thấy ông bàn rộng tới các vấn đề như "phân định các thời kỳ văn học sử", "vấn đề ngôn ngữ", "văn học truyền khẩu", "sự phát triển của truyện cổ tích", "về tuồng, chèo, cải lương"... và hầu hết những chủ điểm này được ông tiếp tục khảo sát, bàn luận trở đi trở lại. Chẳng hạn, khi bàn về vấn đề "phân định các thời kỳ văn học sử", ông có một chú thích nhỏ: "Phạm vi bài này tôi chỉ bàn về tiêu chuẩn phân định các thời kỳ văn học sử. Dịp khác nếu có điều kiện, tôi sẽ bàn cụ thể về các giai đoạn văn học sử Việt Nam" (tr.120) nhưng rồi "dịp khác" ấy phải đợi hơn phần tư thế kỷ sau mới được ông giải quyết và trực tiếp tổ chức cả một hội thảo khoa học vào đầu năm 1985. Bên cạnh các đồng nghiệp khác (Đỗ Đức Hiểu, Trần Đình Hượu, Nguyễn Huệ Chi), ông có báo cáo đề dẫn Vấn đề phân kỳ trong lịch sử văn học dân tộc và qui luật vận động của văn học dân tộc, sau đó công bố trên Tạp chí Văn học (số 3-1985)... Điều quan trọng là sau khi lược thuật các quan điểm phân kỳ lịch sử văn học, ông đã đi đến tự ý thức về tính vấn đề của việc phân kỳ trước hết và trên hết phải là chính bản thân quá trình văn học: “Có thể nói một nhược điểm chung của tất cả những nhà văn học sử từ trước tới nay về phân kỳ văn học sử là ở chỗ họ chỉ mới chú ý đến những yếu tố thuộc về hình thức của văn học, những tác động của xã hội đối với văn học, chứ chưa thực sự chú ý đến sự vận động và qui luật vận động của bản thân đời sống văn học” (tr.32). Trên cơ sở đó ông đi đến nhận thức rành mạch về hai thời đại văn học: “Nền văn học dân tộc trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX vẫn hoạt động trong quĩ đạo của nền văn học khu vực, nền văn học phương Đông, chịu ảnh hưởng của văn hóa láng giềng và chịu sự chi phối sâu sắc của văn học truyền thống chứ chưa đi vào quĩ đạo chung của văn học thế giới. Vì vậy theo chúng tôi, thời kỳ thứ nhất trong văn học dân tộc - có thể gọi là thời kỳ văn học truyền thống - không phải chấm dứt ở giữa thế kỷ XIX, với sự kiện Pháp xâm lược, mà chấm dứt vào cuối thế kỷ XIX, với cuộc thất bại hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Pháp và với cái chết của hai nhà thơ lớn Tú Xương, Nguyễn khuyến. Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX không phải giai đoạn mở đầu của thời kỳ cận đại trong văn học dân tộc như trước nay nhiều nhà văn học sử quan niệm, mà là giai đoạn kết thúc của thời kỳ văn học truyền thống” (tr.34). Bên cạnh đó, ông tiếp tục xác định: “Như vậy thời kỳ cận đại trong văn học ta, theo chúng tôi, bắt đầu từ đầu thế kỷ XX với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc mà Đông Kinh Nghĩa Thục có thể coi là cái mốc đầu tiên và kết thúc với cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945” (tr.34)…

 

Với tư cách là chuyên gia văn học trung đại, Nguyễn Lộc có những kiến giải sâu sắc về nội dung thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm "phê phán để khẳng định", "phê phán thường kết hợp một cách chặt chẽ với khuynh hướng giáo huấn, thuyết lý" (tr.241); tập trung phân tích tính triết lý, hệ thống ngôn từ và hình thức cấu trúc tác phẩm để xác định Nguyễn Gia Thiều - "nhà thơ quý tộc"; nhấn mạnh vai trò ngôn ngữ nhân vật trong kiệt tác Truyện Kiều;đi sâu tìm hiểu phong cách, bút pháp thơ Hồ Xuân Hương v.v...

 

Bên cạnh phần chủ yếu là các bài viết về văn học trung đại, nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc còn hướng đến bao quát các vấn đề văn hóa dân tộc, quan hệ văn hóa Trung Hoa và ca dao, dân ca Việt Nam, quan hệ giữa chính trị và văn nghệ, nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng đội ngũ giảng viên đại học, vấn đề chất lượng đào tạo ở các trường đại học dân lập, việc dạy - học Hán Nôm trong nhà trường... Từ những điểm nhìn khác nhau, ông trân trọng tái hiện chân dung những người thầy và đồng nghiệp như Lê Đình Kỵ, Hoàng Như Mai, Trần Đình Hượu, Hoàng Châu Ký... Nhìn chung, các bài viết của ông bộc lộ rõ một nhân cách khoa học, một tiếng nói trung thực, thẳng thắn và niềm say mê khám phá cái mới trong mỗi trang văn.

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.