Tin mới Xem thêm

  • Giảm lệ thuộc: Không phải chờ 'sự cố...

    Đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam không lớn về tổng vốn đầu tư nhưng các dự án lại triển khai ở những địa bàn trọng yếu và những ngành, lĩnh vực then chốt có tính chất chi phối, ảnh hưởng lớn đến kinh tế xã hội,an ninh, quốc phòng như năng lượng.

  • Cổng làng trên đảo

    Có người đã viết: Lòng yêu nước không phải tìm ở nơi đâu xa lạ, mà bắt đầu từ tâm hồn yêu mái nhà quê ta, yêu cổng làng quê ta. Và bởi vậy, cùng với thời gian, những cổng làng trên đảo sẽ tích tụ nhiều ý nghĩa văn hóa và lịch sử.

  • “Cô Phố” ra mắt tập thơ

    Những vần thơ của Nồng Nàn Phố - bút danh của tác giả Phạm Thiên Ý - đến với bạn đọc lần đầu qua blog, sau này là Facebook. Có một dạo loanh quanh

  • Huy Vọng nghe thời gian ra đi lặng thầm

    Ngày nào tôi cũng có khoảng trống/ Không biết làm gì/ Đôi khi nằm nghe mưa rơi gió thổi/ Nhìn mây bay qua ô cửa nhỏ/ Nhìn đồng hồ lịch trên tường

  • Buộc xuất cảnh 26 người nước ngoài lừa đảo

    Đại tá Nguyễn Văn Anh, Trưởng Phòng quản lý xuất nhập cảnh, Công an TPHCM vừa cho biết đã hoàn thành thủ tục phạt hành chính và buộc xuất cảnh 26 người

  • Đồng Lộc trời xanh, mây trắng…

    Bao giờ đến mùa nở hoa cũng rực rỡ mười bông. Nhất là ngày cúng giỗ cho các cô đều làm vào trưa 24 tháng 7, nếu chuyển sang buổi chiều hay ngày khác là các cô báo mộng không vừa lòng...

Chân dung Xem thêm

  • Trần Ngọc Thêm nói về độc lập văn hoá

    Lịch sử Việt Nam đã cho thấy chính sự độc lập về văn hóa đã đóng vai trò vô cùng quan trọng, cứu đất nước trước bất kỳ cuộc xâm lăng nào.

  • Nguyễn Thế Truật tài hoa và tử tế

    Chúng tôi đã không cầm được nước mắt... Chúng tôi đã xếp hạc, đã xếp ngôi sao... Chúng tôi đã cầu mong một phép mầu... Chúng tôi quá bất ngờ...

  • Trang Thế Hy vàng mười văn học Nam bộ

    NXB Trẻ ký tác quyền trọn đời với rất nhiều nhà văn, nhưng chúng tôi chỉ chọn lọc một số tác phẩm chứ không ký toàn bộ. Với nhà văn Trang Thế Hy, tất cả các tác phẩm của ông từ thơ

  • Ostrovsky cuộc đời như huyền thoại

    Có thể xem "Thép đã tôi thế đấy" là chiến công phi thường của Nikolai Ostrovsky. Cuốn sách sau này trở thành tác phẩm "gối đầu giường" của nhiều thế hệ thanh niên. Tháng 6.1934, Nikolai Ostrovsky được kết nạp vào Hội

Thế giới sách Xem thêm

Thế giới sách

Những tiểu luận văn học và những bài viết khác

18.12.2010-15:30

 

Những tiểu luận văn học và những bài viết khác

của Nguyễn Lộc

 

LA SƠN

 

Các bài viết của Nguyễn Lộc bộc lộ rõ một nhân cách khoa học, một tiếng nói trung thực, thẳng thắn và niềm say mê khám phá cái mới trong mỗi trang văn.

 

Trong suốt nửa thế kỷ vừa qua, nhiều thế hệ sinh viên ngành văn và bạn đọc đã biết đến các công trình nghiên cứu chuyên sâu của PGS. Nguyễn Lộc như về thể loại ngâm khúc, hệ thống truyện thơ Nôm, văn học Tây Sơn, nghệ thuật Hát bội, tác gia Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều...

 

Đặc biệt giáo trình văn học sử có tên Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX) được coi là bộ sách "chất lượng cao", có ý nghĩa qui chuẩn quốc gia và qua ba mươi năm được tái bản tới tám lần đã chứng minh những ảnh hưởng và tầm quan trọng của bộ sách trong đời sống học thuật và sự nghiệp giáo dục, đào tạo ngành văn bậc cao ở Việt Nam.

 

Nói riêng tập sách Những tiểu luận văn học và những bài viết khác là sự tập hợp 26 mục bài viết của nhà giáo, nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc suốt từ năm 1957 đến thời gian gần đây. Ngay một mục bài được viết vào giai đoạn đầu Góp mấy ý kiến về quyển "Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam" (Quyển I)(Tạp chí Nghiên cứu Văn - Sử - Địa, số 41, tháng 6-1958) đã thấy ông bàn rộng tới các vấn đề như "phân định các thời kỳ văn học sử", "vấn đề ngôn ngữ", "văn học truyền khẩu", "sự phát triển của truyện cổ tích", "về tuồng, chèo, cải lương"... và hầu hết những chủ điểm này được ông tiếp tục khảo sát, bàn luận trở đi trở lại. Chẳng hạn, khi bàn về vấn đề "phân định các thời kỳ văn học sử", ông có một chú thích nhỏ: "Phạm vi bài này tôi chỉ bàn về tiêu chuẩn phân định các thời kỳ văn học sử. Dịp khác nếu có điều kiện, tôi sẽ bàn cụ thể về các giai đoạn văn học sử Việt Nam" (tr.120) nhưng rồi "dịp khác" ấy phải đợi hơn phần tư thế kỷ sau mới được ông giải quyết và trực tiếp tổ chức cả một hội thảo khoa học vào đầu năm 1985. Bên cạnh các đồng nghiệp khác (Đỗ Đức Hiểu, Trần Đình Hượu, Nguyễn Huệ Chi), ông có báo cáo đề dẫn Vấn đề phân kỳ trong lịch sử văn học dân tộc và qui luật vận động của văn học dân tộc, sau đó công bố trên Tạp chí Văn học (số 3-1985)... Điều quan trọng là sau khi lược thuật các quan điểm phân kỳ lịch sử văn học, ông đã đi đến tự ý thức về tính vấn đề của việc phân kỳ trước hết và trên hết phải là chính bản thân quá trình văn học: “Có thể nói một nhược điểm chung của tất cả những nhà văn học sử từ trước tới nay về phân kỳ văn học sử là ở chỗ họ chỉ mới chú ý đến những yếu tố thuộc về hình thức của văn học, những tác động của xã hội đối với văn học, chứ chưa thực sự chú ý đến sự vận động và qui luật vận động của bản thân đời sống văn học” (tr.32). Trên cơ sở đó ông đi đến nhận thức rành mạch về hai thời đại văn học: “Nền văn học dân tộc trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX vẫn hoạt động trong quĩ đạo của nền văn học khu vực, nền văn học phương Đông, chịu ảnh hưởng của văn hóa láng giềng và chịu sự chi phối sâu sắc của văn học truyền thống chứ chưa đi vào quĩ đạo chung của văn học thế giới. Vì vậy theo chúng tôi, thời kỳ thứ nhất trong văn học dân tộc - có thể gọi là thời kỳ văn học truyền thống - không phải chấm dứt ở giữa thế kỷ XIX, với sự kiện Pháp xâm lược, mà chấm dứt vào cuối thế kỷ XIX, với cuộc thất bại hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Pháp và với cái chết của hai nhà thơ lớn Tú Xương, Nguyễn khuyến. Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX không phải giai đoạn mở đầu của thời kỳ cận đại trong văn học dân tộc như trước nay nhiều nhà văn học sử quan niệm, mà là giai đoạn kết thúc của thời kỳ văn học truyền thống” (tr.34). Bên cạnh đó, ông tiếp tục xác định: “Như vậy thời kỳ cận đại trong văn học ta, theo chúng tôi, bắt đầu từ đầu thế kỷ XX với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc mà Đông Kinh Nghĩa Thục có thể coi là cái mốc đầu tiên và kết thúc với cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945” (tr.34)…

 

Với tư cách là chuyên gia văn học trung đại, Nguyễn Lộc có những kiến giải sâu sắc về nội dung thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm "phê phán để khẳng định", "phê phán thường kết hợp một cách chặt chẽ với khuynh hướng giáo huấn, thuyết lý" (tr.241); tập trung phân tích tính triết lý, hệ thống ngôn từ và hình thức cấu trúc tác phẩm để xác định Nguyễn Gia Thiều - "nhà thơ quý tộc"; nhấn mạnh vai trò ngôn ngữ nhân vật trong kiệt tác Truyện Kiều;đi sâu tìm hiểu phong cách, bút pháp thơ Hồ Xuân Hương v.v...

 

Bên cạnh phần chủ yếu là các bài viết về văn học trung đại, nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc còn hướng đến bao quát các vấn đề văn hóa dân tộc, quan hệ văn hóa Trung Hoa và ca dao, dân ca Việt Nam, quan hệ giữa chính trị và văn nghệ, nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng đội ngũ giảng viên đại học, vấn đề chất lượng đào tạo ở các trường đại học dân lập, việc dạy - học Hán Nôm trong nhà trường... Từ những điểm nhìn khác nhau, ông trân trọng tái hiện chân dung những người thầy và đồng nghiệp như Lê Đình Kỵ, Hoàng Như Mai, Trần Đình Hượu, Hoàng Châu Ký... Nhìn chung, các bài viết của ông bộc lộ rõ một nhân cách khoa học, một tiếng nói trung thực, thẳng thắn và niềm say mê khám phá cái mới trong mỗi trang văn.

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.