Tin mới Xem thêm

  • Xe máy và người nghèo

    Câu chuyện “cấm xe máy” một lần nữa lại đốt nóng dư luận – cho dù những tranh cãi quanh vấn đề này vẫn liên tục được nâng lên

  • Áo dài xuống đường đòi quyền sống

    Cuộc đời nữ luật sư huyền thoại Ngô Bá Thành đã gắn bó với chiếc áo dài khi xuống đường đòi quyền sống

  • Đặng Huy Giang nguyên trong anh là một bất...

    Đêm giao thừa vừa rồi/ Nhà tôi kê thêm nhiều bàn, nhiều ghế/ Và mua thêm nhiều rượu, nhiều trà/ Cắm thêm nhiều hoa văn minh, văn hóa/ Đón các ông tử tế vào nhà/ Ông tên Chân Thành/ Ông tên Trung Thực/ Ông tên Đàng Hoàng/ Ông tên Ngay Ngắn...

  • Lòng tin - bài học để lại

    Khi mọi người yêu cầu tôi ký chứng nhận bản cam kết của Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung với người dân xã Đồng Tâm, tôi không do dự mà còn nói thêm là sẽ ký như một người chứng thực chữ ký của các bên, và ký xong thì sẽ điểm chỉ

  • Trần Đình Sử, tại sao?

    Có một người thấp đậm, phong cách khá chân phương với nụ cười lành đi từng bước chắc nịch theo cách riêng của mình: Trần Đình Sử

  • Việt Nga - Mùa hoa tam giác mạch

    Ngần ngại mãi, Phong mới quyết định đi Hà Giang cùng cơ quan! Đây là chuyến đi chia tay Phó Tổng giám đốc. Còn gần tháng

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Thế giới sách

Trăng nghiêng về bên em của Thành Chung

12.4.2017-23:00

Tập thơ Trăng nghiêng về bên em

 

>> Khói bom lấm láp nụ hoa

>> Không có Cuội trăng không còn là trăng nữa

 

Trăng nghiêng về bên em của Thành Chung

 

VĂN ĐẮC

 

NVTPHCM- “Trăng nghiêng về bên em” là vầng trăng cảm ra từ vầng trăng thật, vầng trăng trong kỷ niệm, trong tâm hồn người lính. Vầng trăng mà rừng suối khát thèm suốt dọc mùa mưa cho tới mùa khô, mới nghe “Trăng hát với dòng xanh”, “Trăng nghiêng về bên em” – Tình yêu – Quê hương – Đất nước – Con người.

 

Trong bài thơ “Đầu súng trăng treo” của Chính Hữu là trăng canh đêm trước giờ ra trận. Trăng tĩnh vừa thản nhiên vừa nghiêm trọng, một vầng trăng lặng thắt. “Trăng nghiêng về bên em” của Thành Chung vẽ ra nhiều bức tranh trên nhiều ngả đường đời của anh. “Trăng vàng xuống biển lên non/ Trăng cài lên tóc…”; trăng theo vào nỗi nhớ mà “Gom bao sông núi chiều tà vào thơ.”Đó là hương thầm:

 

“Rượu quê nhuộm má em hồng

Mây khuya tan tác, trăng cong đầu mùa”.

Rượu quê

 

Đó là bóng bà khi về thăm chợ Vườn Hoa cũ:

 

“Bà tôi đã mất lâu rồi

Nay về chợ cũ đã rời nơi đâu?

Ngước nhìn cao mấy tầng lầu

Trăng quê thả trắng ngang đầu bà tôi!”.

Kỷ niệm chợ Vườn Hoa

 

Đó là nỗi niềm vãng cảnh hồ Tây:

 

“Tương tư đường trải lụa mờ

Để trăng dăng díu những lời hồ Tây”.

Lời Hồ Tây

 

Rồi từ thẳm sâu đời lính, anh viết khi bị ốm ở bệnh viện:

 

“Trên giường anh

Mảnh vụn chiến tranh

Cắm vào đêm …”.

Tiếng nấc

 

Thì bóng người vợ “Mái tóc/ điểm bạc/ rũ xuống …

 

Tựa trăng đêm bóng song thưa

Sao mai đáy mắt cũng vừa mọc lên”.

Tiếng nấc

 

Bóng trăng, bóng người, tình trăng, tình người, trăng rừng, trăng biển … đều mơ vọng từ trái tim tâm hồn người lính. Thành Chung đã nhập hồn vào nhiều cảnh đời trải lòng theo muôn nẻo nước non mà thành người lính nghệ sĩ.

 

Chùm thơ hai câu của anh thấy như những ngẫu hứng bút khơi dậy từ nhiều ý niệm khái quát, ám ảnh chất chứa trong đường đời:

 

“- Vút lên cao những cánh diều

Ném vào xanh thẳm bao nhiêu tiếng cười”.

Thơ hai câu

 

Nói về tuổi thơ mà gợi về chuyện người lớn!

 

“- Chuông ngân cong ngọn khói nhang

Gợn Hồ Tây cũng bàng hoàng mà xanh”.

Thơ hai câu

 

Miêu tả tiếng chuông chùa như thế thì tài quá!

 

“- Úp mình soi mặt trên sông

Gương trời ở tận đáy dòng, quê ơi!”.

Thơ hai câu

 

 “Úp mặt vào dòng sông” ai đó đã hát, thế mà đặt trước câu “Gương trời ở tận đáy dòng! Quê ơi” thì mới và lạ, vừa thương, vừa đau thăm thẳm!

 

“- Một mai liễu cắt tóc thề

Thuyền trăng lại chở trăng về bến trăng .

Thơ hai câu

 

Trăng liễu như hiện hồn ám ảnh khiến ta liên tưởng đến tình yêu thề thốt.

 

Lại nữa, một số bài thường xuất hiện những câu hay đột ngột, lấp lánh tài hoa. Thí dụ bài  thơ “Đông”:

 

Ngỡ ngàng trận mạc hoang tàn

Mây ăn trắng núi, mưa san trắng đồng

Lạnh chèo khua buốt lòng sông

Trời như mang đá xếp chồng lên mây ”.

 

Mùa đông lạnh xám thì rõ rồi, nhưng phải là người lính mới có cái nhạy bén trực cảm ngỡ ngàng trận mạc và đột ngột hiện ra những hình ảnh “ mây ăn trắng núi… lạnh chèo khua buốt… trời như mang đá…” đảo ngữ, so sánh, thật lạ!

 

Hay bài “Tặng tuổi thơ”, câu mở đầu lột tả được hồn điệu tuổi học trò ngây thơ, trong trẻo:

 

Sớm ra ve dậy thổi kèn

Dăng dăng hoa phượng đỏ đèn lên cây .

 

Hay bài “Mâm quả” câu : “Ánh trăng đã mắc ngang lòng…”. Từ “mắc” đặt đúng chỗ, người ta gọi là “nhãn tự” trong câu thơ. Nói trăng mà gợi chuyện tình yêu. 

 

Tôi đọc qua từng từ, từng câu, mà đặt ra như thế để ta thấy Thành Chung mở lối đi từ người lính đến người lính nghệ sỹ thật tự nhiên, thanh thoát. Anh còn dụng công tìm lối thơ tự do, thơ gần với văn xuôi, để tỏ rõ nỗ lực đổi mới của thơ mình.

 

Bài thơ “Tay em họa sĩ”:

 

“Em neo dòng sông

Cắm xào tĩnh tại

Dừng trôi

                Dẫn sông đi tìm con suối”.

 

Đó là thơ tự do, ý tứ sáng rõ từ cụ thể đến khái quát:

 

“Tay em

Cất bình minh

Nơi khuất khung trời”.

 

Bài thơ “Ngũ sắc” có câu thơ rất đẹp:

 

“Nét nghiêng thả gió vàng rơi

Trùng chiềng miếng nắng cả đời vẫn bay”.

 

Rồi kết luận ngợi ca sức sáng tạo của họa sĩ:

 

“Một đêm sinh hạ bầu trời

Nét vàng bay bổng những lời mắt em”.

 

Thơ viết về người nhiếp ảnh có nhiều phát hiện thú vị. Bài “Lính cuối đời”:

 

Một đời lính

Một đời ống kính

Thu tất cả mưa bom bão đạn …

Thu dòng sông thành hình

Bỏ túi

Tặng cho bạn

Nào sông nào núi

Lính cuối đời ống kính còn đỏng đảnh”.

 

Cứ thế người nhiếp ảnh mê mải:

 

“Chộp lấy trăng sao

Đóng chết khung trời

Treo lên tường

Nâng rượu ngắm chơi!”.

Ảnh đêm

 

Tứ thơ vừa thật vừa bay bổng, vừa động vừa tĩnh, vừa ngoại cảnh vừa nội tâm, vừa mở không gian rộng, vừa kéo hình ảnh lại gần. Bài thơ bộc lộ được tính hành động của người lính, nhanh nhạy của người chụp ảnh và say mê thưởng ngoạn của người nghệ sĩ. Bài thơ chữ ít ý nhiều.

 

Thành Chung đã cho xuất bản 5 tập thơ: Hoa và lính, Đất dậy thì, Hôn lên biển cả, Trong màu áo lính, Mê ly mắt lính. Trăng nghiêng về bên em, là tập thơ thứ 6. Thơ Thành Chung là thơ của người lính. Người lính - Nghệ sĩ - Người lính - Mang hồn - Thi ca. Năm 1973 khi là lính Trường Sơn, Thành Chung đã ghi vào nhật ký:

 

“Có anh lính trẻ nhớ nhà

Gom bao sông núi chiều tà vào thơ”.

Trang nhật ký

 

Bây giờ “Thăm nhà đồng đội”, Thành Chung thầm thì với vầng trăng chung thủy của mình:

 

“Thương đau đã ngấm qua mình

Trăng khuya giữ chút mối tình rừng xưa”.

Thăm nhà đồng đội

 

Đó là lời thốt lên bất chợt, không có ý định gì, cứ như tự nỗi lòng gặp cảnh là sinh tình, là thành thơ.

 

Thanh Hóa, cuối mùa thu năm 2016

 

 

>> XEM TIẾP THẾ GIỚI SÁCH…    

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.