Tài Liệu

Sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng ở Mỹ Tho

 

 

Sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng

trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ

23.11.1940 ở Mỹ Tho

 

LÊ MINH ĐỨC

      NVTPHCM- “Lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ Mặt trận, lá cờ Tổ quốc lần đầu tiên được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ là do Xứ uỷ trực tiếp chỉ đạo. Đồng chí Phan Văn Khoẻ- Bí thư Tỉnh uỷ Mỹ Tho, Xứ uỷ viên đã giao trực tiếp cho đồng chí Lê Quang Sô nghiên cứu thiết kế”.

      Đã 2 lần Tiền Giang nghiên cứu và biên soạn về cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ở Mỹ Tho và Gò Công.

      Lần thứ nhất với cuốn “Tiền Giang trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ngày 23 – 11 – 1940” xuất bản năm 1985.

      Lần thứ hai, tham gia một chuyên đề khởi nghĩa 23 tháng 11 ở Mỹ Tho trong cuốn Khởi nghĩa Nam kỳ, một công trình lớn đã được Hội đồng Khoa học cấp Nhà nước công nhận.

      Nhưng cả hai lần đều chưa được đề cập một cách đầy đủ với dẫn chứng cụ thể và giải thích một cách rõ ràng mà chỉ mới đề cập như là sự có mặt của lá cờ đỏ sao vàng và quốc hiệu “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”.

      Tại sao cả 2 lần tổ chức nghiên cứu một cách quy mô mà lại bỏ qua những chi tiết có ý nghĩa như vậy?

      Vấn đề chủ yếu là tư liệu. Các nguồn tư liệu thành văn (mà chúng tôi đã cố hết sức sưu tầm) đều không có đề cập đến vấn đề này. Với quan niệm, chỉ có tư liệu thành văn mới đáng tin cậy, nên mặc dù đã có một số hồi ký của các đồng chí lão thành cách mạng và đã có các cuộc trao đổi lấy tư liệu với những nhân chứng lịch sử những vấn đề đó.

      Cho đến ngày 14 tháng 12 năm 2000, trong cuộc Hội thảo về khởi nghĩa Nam kỳ do Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Khởi nghĩa Nam kỳ tổ chức tại T.78 ở Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Mạc Đường, lúc đó là viện trưởng Viện Khoa học xã hội ở phía Nam có phát biểu đánh giá và khen công trình đã mạnh dạn sử dụng tư liệu hồi ký và nhân chứng sống và cho đó là cách làm tốt trong hoàn cảnh ta chưa có điều kiện lưu giữ tư liệu. Quan niệm của chúng tôi có sự chuyển biến. Đến khi Đài Phát thanh Hà Nội phát thanh cách đây 2 hay 3 năm và một lần mới đây vào khoảng cuối tháng 6, đầu tháng 7 năm 2005 với nội dung những hồi ký của các nhà hoạt động cách mạng được tổ chức viết sau năm 1960 và 1970 là đáng tin cậy và có thể sử dụng được. Chúng tôi mới thật sự tin tưởng vào những việc mình đã làm và mạnh dạn tiếp tục đi sâu vào vấn đề này.

      1. Hoàn cảnh ra đời:

      Ý tưởng về lá cờ Tổ quốc, lá cờ của một quốc gia độc lập có lẽ đã có từ rất sớm với những nhà hoạt động cách mạng đấu tranh cho nền độc lập dân tộc.

      Nhưng ý tưởng về lá cờ đỏ sao vàng có lẽ phải sau Cách mạng Tháng 10 Nga, khi bác Tôn kéo cờ đỏ phản chiến chống chiến tranh đế quốc ủng hộ chính quyền Xô Viết trẻ tuổi ở biển Bắc Hải năm 1919.

      Và đến khi thành lập Đảng, ý tưởng về cờ đỏ sao vàng 5 cánh mới rõ nét dần.

      Nhưng cụ thể như thế nào, ngôi sao đặt ở đâu, màu đỏ, màu vàng, 5 cánh sao biểu tượng cho cái gì? Phải đợi đến khi có “Đề cương chuẩn bị bạo động” mới thực sự được tổ chức thực hiện và đến tháng 7 năm 1940 với Hội nghị Tân Hương, Hội nghị Xứ uỷ Nam kỳ mới được thông qua hình mẫu và phổ biến.

      Sự ra đời của cờ đỏ sao vàng bắt nguồn từ Nghị quyết Trung ương lần thứ 6.

      Hội nghị lần thứ 6 của Trung ương Đảng tháng 11 năm 1939 nêu rất cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc: Bước đường sinh tồn của dân tộc, không còn con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để tranh lấy giải phóng dân tộc.

      Phải đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cách mạng, kể cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào mục đích ấy mà giải quyết.

      Nghị quyết của Hội nghị Trung ương khẳng định: Công nông phải đưa cao cây cờ dân tộc lên, vì quyền lợi của dân tộc mà sẵn sàng bắt tay với tiểu tư sản và những tầng lớp tư sản dân tộc, trung, tiểu địa chủ còn có ít nhiều tinh thần dân tộc chống đế quốc. Muốn đi đến đánh đổ đế quốc, phải huy động dân chúng, kêu gọi lòng ái quốc chân chính, kêu gọi thống nhất dân tộc, mở rộng và nêu cao tinh thần dân tộc, tập hợp tất cả vào Mặt trận Dân tộc Thống nhất, làm cho mọi người trong các giai cấp có ý thức về sự tồn vong và sự liên quan mật thiết của vận mệnh dân tộc với lợi ích cá nhân của mình, đặt quyền lợi dân tộc lên trên các quyền lợi khác, thống nhất dân tộc là điều kiện cốt yếu để đánh đổ đế quốc Pháp.

      Phương pháp để mình giải phóng dân tộc là dùng bạo lực cách mạng, bằng con đường khởi nghĩa võ trang, do đảng tổ chức chỉ đạo. Nghị quyết của Trung ương đề ra phải “dự bị những điều kiện bước tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc”.

      Trong tuyên ngôn Đảng Cộng sản tháng 11 năm 1939 “Đảng cộng sản chúng tôi nguyện là một đội quân trung thành, dũng cảm của Mặt trận ấy”.

      Lời kêu gọi của Đảng với những nhận định đúng đắn và tình thế về thời cuộc trên thế giới và trong nước. đã đưa ra được giải pháp hợp tình hợp lý, đáp ứng được nhu cầu lịch sử, được đa số trong các tầng lớp nhân dân hưởng ứng.

      Phong trào cách mạng ở Mỹ Tho được phục hồi rất nhanh chóng. Đến tháng 10 năm 1940, Mỹ Tho có hơn 70 chi bộ trên tổng số 123 làng, tăng gấp 7 lần với 456 đảng viên, tăng gấp 8 lần so với tháng 2 năm 1939. Và đã có hơn 3.000 du kích, hầu hết đều tổ chức được từ 1 tiểu đội đến 1 trung đội du kích, có xã có đến 3 trung đội du kích như các xã: Long Hưng, Long Định, Tam Hiệp, Thạnh Phú.

      Trong quá trình vận động xây dựng Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương từ cuối năm 1939 đến những tháng đầu năm 1940, Đảng bộ Mỹ Tho đã bằng nhiều cách tổ chức được nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi và cả tranh luận về con đường giải phóng dân tộc với các nhân sĩ trí thức, các trung tiểu địa chủ, các đảng phái khác để tìm hiểu nguyện vọng và chí hướng của các tầng lớp này.

      Hầu hết những người được gặp, trong đó có Ngô Đình Đẩu (địa chủ, lãnh tụ Quốc gia đảng), Nguyễn Phi Hoanh (Quốc gia đảng) ở Tân Hiệp, Hương cả Lầu (địa chủ nhỏ ở Long Trung, Cai Lậy, là cha của tiến sĩ triết học Hồ Đắc Thắng, chú của bác sĩ Hồ Đắc Di), giáo sư Thanh ở Bà Rịa, nhà báo Nguyễn Quang Phấn, nhà soạn tuồng Trần Hữu Trang, Hội đồng Tạo…, đã có quan điểm gần thống nhất với nhau là: Cách mạng giải phóng dân tộc phải do toàn dân tộc làm mới thành công được, không một lực lượng riêng lẻ nào có thể làm được, trong đó lực lượng mạnh nhất, đã giương cao ngọn cờ dân tộc là tổ chức cộng sản. Mặt trận Dân tộc Thống nhất là mặt trận đoàn kết, phải có ngọn cờ hiệu triệu, ngọn cờ đoàn kết, ngọn cờ chung cho mọi giai tầng xã hội. Không thể lấy cờ Đảng làm cờ Mặt trận được. Cờ Đảng là ngọn cờ lãnh đạo, ngọn cờ chỉ đường.

      Cờ Mặt trận là ngọn cờ đoàn kết, ngọn cờ thực hiện, ngọn cờ hành động. Mỗi giai tầng xã hội phải có phần mình trong đó.

      Còn cờ Tổ quốc thì sau khi cách mạng thành công, có Quốc hội, có Hiến pháp thì do Quốc hội, Hiến pháp quy định.

      Những ý kiến đó được phản ảnh kịp thời cho Tỉnh uỷ Mỹ Tho và Xứ uỷ Nam kỳ.

      2. Quá trình hình thành cờ đỏ sao vàng:

      Đầu năm 1940, đồng chí Phan Văn Khoẻ- Bí thư Tỉnh uỷ Mỹ Tho, xứ uỷ viên Nam kỳ có trao đổi với đồng chí Lê Quang Sô về đòi hỏi của các tầng lớp dân chúng là đúng đắn, chúng ta thử nghiên cứu lá cờ Mặt trận. (Đồng chí Lê Quang Sô là một đảng viên lớn tuổi sinh năm 1894, từng trải đời, hoạt động cách mạng sớm, là trí thức Nho học, biết tiếng Pháp, đã đi Trung Quốc tìm cách mạng năm 1927, từng va chạm với Quốc dân Đảng, đã từng gặp nhà ái quốc Phan Bội Châu và đã từng ở tù Côn Đảo cùng với Ngô Gia Tự, Trần Văn Giàu, Lư Sanh Hạnh, Nguyễn Tuấn…, cùng làm báo và tổ chức lớp học văn hoá, chính trị trong nhà tù. Khi ra tù, được Tỉnh uỷ Mỹ Tho tín nhiệm giao nhiệm vụ mở lớp đào tạo cán bộ. Đồng chí đã mở 3 lớp, mỗi lớp 6-7 đồng chí trong khoảng thời gian từ năm 1937 đến 1939).

      Đồng chí Lê Quang Sô đã tham khảo ý kiến với ông Lê Kiến Đức. Ông Lê Kiến Đức là một nhà nho học tiến bộ, trước đây đã bán đất để góp tiền xây dựng Nam Cường Thư xã, nhà sách của Đảng bộ Mỹ Tho, là người chịu khó nghiên cứu, đáng tin cậy. Ông nói: “Mỗi nước có lá cờ của mình, trong đó chứa đựng nội dung ý nghĩa của nó như cờ Pháp, cờ Liên Xô, cờ Nhật,… còn mình lấy cái gì làm nội dung đây?”.

    Ý kiến của đồng chí Sô là: lá cờ của Đảng mình là cờ đỏ búa liềm, nay thêm lá cờ mặt trận, thêm một cờ đỏ nữa, nền đỏ phải giữ, còn bên trong vẽ cái gì phải tính.

    Nghĩ mãi rồi cũng phải ra, cái gì trong đó phải thể hiện tính chất chỉ đường, chỉ hướng và phải làm sao mỗi giai tầng xã hội cảm thấy có mình trong đó.

    Đồng chí Lê Quang Sô và đồng chí Hồ Tri Hạ (đảng viên ở Bà Rịa lánh địch theo đồng chí Sô về tham gia hoạt động ở Mỹ Tho) mày mò vẽ các kiểu ngôi sao, vẽ đi vẽ lại nhiều lần cuối cùng chọn ngôi sao năm cánh màu vàng vì thấy đẹp. Dần dà suy nghĩ, ngấm mới thấy ý nghĩa: màu vàng là màu dân tộc, năm cánh thể hiện năm giai tầng xã hội: sĩ, nông, công, thương, binh.

    Lá cờ hình chữ nhật, nền đỏ dễ nhất trí, nhưng ngôi sao đặt ở đâu? Ngôi sao được dời đi, dời lại khắp mọi chỗ trên là cờ, cuối cùng được chọn dặt ở vị trí chính giữa lá cờ, vì chỉ có ở vị trí đó mới thể hiện được tính chất trang nghiêm và mới có chỗ để ngôi sao đủ lớn để làm rõ năm cánh sao. Đồng chí Phan Văn Khoẻ đồng ý với hình mẫu được phác thảo, lúc bấy giờ vào khoảng tháng tư năm 1940.

    Hội nghị Xứ uỷ mở rộng tháng bảy năm 1940 ở Tân Hương (huyện Châu Thành, tình Mỹ Tho) đã quyết nghị nhiều vấn đề quan trọng về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Hội nghị thông qua đề cương chuẩn bị khởi nghĩa của thường vụ xứ uỷ phát hành từ tháng 3 năm 1940. Nghị quyết về việc tổ chức thực hiện, thành lập các ban: tham mưu, phá hoại, giao thông, tiếp tế, cứu thương, tuyên truyền, tài chính, quân báo. Nghị quyết về hình thức của chính quyền, quốc kỳ, khẩu hiệu, chính sách đối với các tầng lớp nhân dân. Quốc kỳ là cờ đỏ sao vàng năm cánh, nền đỏ tượng trưng cho cách mạng; năm cánh sao tượng trưng cho tầng lớp sĩ, nông, công, thương, binh, đoàn kết; màu vàng có ý nghĩa màu dân tộc. Kích cỡ là cờ cũng được sơ bộ quy định thống nhất, lá cờ hình chữ nhật, bề dài bằng 1,5 bề ngang, ngôi sao năm cánh bằng 1/3 bề dài lá cờ và đặt ở trung tâm cờ. Riêng cánh sao không quy định cụ thể, hình bầu hay nhọn đều được.

    Như vậy, Hội nghị Xứ uỷ tháng 7 ở Tân Hương đã chấp nhận phác thảo lá cờ Mặt trận do Tỉnh uỷ Mỹ Tho đề nghị làm Quốc kỳ của nước Việt Nam.

    3.  Lá cờ đỏ Long Hưng

    Trong công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa, có việc may cờ, một lá cờ lớn treo ở Uỷ ban khởi nghĩa Mỹ Tho và cờ cho các mũi tiến công. Trong bối cảnh thời chiến, mọi hoạt động chính trị đều bị cấm, Đảng cộng sản bị đặt ngoài vòng pháp luật, các hội ái hữu hay các tổ chức nào có liên quan đến cộng sản đều bị giải tán, nên tất cả mọi sự chuần bị đều phải hết sức bí mật.

    Để may được một lá cờ lớn cỡ bộ ván giữa (dài 2m5, rộng 1m8) chỉ cần 6m vải tây đỏ (khổ vải 0,8m). Thế nhưng tìm cho ra 6m vải đỏ không dễ chút nào. Vải đỏ, giấy điều đều bị cấm, ai tàng trữ đều bị thăm hỏi rầy rà. Vải đỏ chỉ có thể có ở các tiệm vải của người Hoa, các đồng chí Huyện uỷ Châu Thành đã vận động được một chủ tiệm vải người Hoa ở Vĩnh Kim nhượng lại toàn bộ số vải đỏ bà có, tất cả chỉ được gần 20m vải ta đỏ ( khổ 0,4m). Số vải đó chỉ đủ may một lá cờ lớn và một băng rôn.

    Chị Tám Thẩm, một huyện uỷ viên trẻ nhận việc may cờ với lời dặn dò của các anh trong Huyện uỷ, phải may cho chắc, chịu được gió lớn. Nhận vải, chị may tại nhà mình (xã Long Hưng), nhưng lấy đâu ra vải vàng để may ngôi sao? Vải vàng không bị cấm, nhưng không đâu có. May sao được sự ủng hộ của một gia đình trong xã, tháo bức Tiền Bàn trước bàn thờ gia tiên đem đến để may ngôi sao.

    Tại sao Long Hưng được chọn làm địa điểm may cờ? Đình Long Hưng được chọn làm Tổng Hành dinh, cơ quan đầu não của cuộc khởi nghĩa và là nơi treo cao ngọn cờ của cuộc khởi nghĩa. Chính vì Long Hưng là một trong cụm xã có phong trào mạnh (Long Hưng, Long Định, Thạnh Phú, mỗi xã đã có 3 trung đội du kích) bọn tề xã đều bị khống chế, lại ở vào vị trí trung tâm của tỉnh, gần thành phố Mỹ Tho, không xa thị trấn Tân Hiệp, các thị tứ Vĩnh Kim, Long Định và là xã có địa hình có thể tiến và cũng có thể giữ.

    Và cũng chính từ nơi đây, dưới ngọn cờ Tổ quốc cờ đỏ sao vàng, một băng rôn đỏ, chữ trắng được căng trước cổng đình: “Việt Nam dân chủ Cộng hoà quốc”. Uỷ ban khởi nghĩa đã thành lập Uỷ ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh, Toà án nhân dân cách mạng tỉnh. Và trong 49 ngày tồn tại, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh đã chỉ đạo thực thi các chính sách của Mặt trận Dân tộc Thống nhất, trong đó có chính sách tịch thu ruộng đất của địa chủ phản động đem chia cho dân cày nghèo, chính sách về các quyền tự do dân chủ, chính sách giáo dục, khoan hồng đối với những người lầm đường lạc lối, chia thóc lúa cho dân nghèo, tôn trọng tín ngưỡng, bảo vệ quyền lợi nhân dân.

    Uỷ ban khởi nghĩa huyện Châu Thành, sau khi nhận lá cờ đỏ do đồng chí Tám Thẩm may đã giao nhiệm vụ cho đồng chí Tư Hiệp – Bí thư chi bộ xã Long Hưng. Tối ngày 22 tháng 11 năm 1940, đồng chí Tư Hiệp cùng với 2 đảng viên dùng tầm vông làm cán cờ treo lá cờ lên chót ngọn cây bàng cao hơn 10m trước đình Long Hưng (cây bàng đó ngày nay vẫn còn, nó là cây bàng đực theo như nhân dân địa phương nói, nó có chiều cao khác với những cây bàng khác thường toả rộng chiều ngang, nhưng nó chỉ có bông mà không có trái).

    Cùng với lá cờ “soái” ở Long Hưng còn có nhiều cờ đỏ sao vàng của các mũi tiến quân.

     Mũi tiến công đánh đồn Thạnh Phú (Châu Thành) do đồng chí Nguyễn Văn Tân và đồng chí Danh chỉ huy vào lúc 01 giờ sáng ngày 23 tháng 11 diệt 1 tên cảnh sát, bắt 1 tên bếp (Lê văn Khương) và tên cai trưởng đồn (Bùi Văn Trí).

    Mũi tiến công đánh đồn Chợ Bưng (Tam Hiệp) do đồng chí Mười Thập chỉ huy vào lúc 07 giờ sáng ngày 23 tháng 11 bắt diệt được 5 lính thu 6 súng.

    Và cờ đỏ sao vàng cũng đã xuất hiện ở nhiều nơi trong tỉnh như các xã Đạo Thạnh, Kim Sơn, Vĩnh Kim, Thạnh Phú, Long Hưng, Tam Hiệp, Bình Trưng (huyện Châu Thành).

    Còn lá cờ búa liềm, lá cờ của Đảng thì xuất hiện đều khắp ở tất cả các mũi tiến công và các xã khởi nghĩa trong toàn tỉnh.

    Như vậy ta có thể kết luận, lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ Mặt trận, lá cờ Tổ quốc lần đầu tiên được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ là do Xứ uỷ trực tiếp chỉ đạo. Đồng chí Phan Văn Khoẻ- Bí thư Tỉnh uỷ Mỹ Tho, Xứ uỷ viên đã giao trực tiếp cho đồng chí Lê Quang Sô nghiên cứu thiết kế. Ý tưởng lá cờ được hình thành rõ nét khi Nghị quyết Trung ương 6 khẳng định: “Công nông phải đưa cao cây cờ dân tộc lên”, được thực tế đòi hỏi của các tầng lớp nhân dân yêu nước đứng trong Mặt trận Dân tộc Thống nhất và được thúc đẩy mạnh mẽ của việc chuẩn bị khởi nghĩa theo đề cương chuẩn bị bạo động của Thường vụ Xứ uỷ Nam kỳ. Lá cờ đó là công trình của nhiều người từ ý tưởng của đồng chí Trần Phú từ năm 1931, của Xứ uỷ Nam kỳ mà trực tiếp là đồng chí Phan Văn Khoẻ là người gợi ý và giao việc trực tiếp cho đồng chí Lê Quang Sô thiết kế. Đồng chí Hồ Tri Hạ là người gần gũi thường xuyên trao đổi với đồng chí Lê Quang Sô. Ngoài ra còn có sự góp ý của ông Lê Kiến Đức và có lẽ còn có nhiều đồng chí khác nữa.

    Bản tham luận trên đây là sự tập hợp và xâu chuỗi lại những tư liệu được rút ra từ những hồi ký của các đồng chí Lê Quang Sô, đồng chí Bảy Thường (Tỉnh uỷ viên), đồng chí Nguyễn Thị Thập (Tỉnh uỷ viên), đồng chí Tư Hồi (Huyện uỷ viên Châu Thành), đồng chí Ba Thanh Sơn (Huyện uỷ viên Châu Thành), đồng chí Nguyễn Văn Tân (Tỉnh uỷ viên). Những đồng chí này đều có tập kết ra Bắc năm 1954, đã được Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng trung ương tổ chức viết hồi ký vào những năm 1960 đến 1972. Người chấp bút là đồng chí Ba Thanh Sơn (Trần Quang Lợi, Huyện uỷ viên Châu Thành năm 1939-1940, Bí thư Châu Thành năm 1947). Cùng với những ghi chép của các cuộc toạ đàm của các nhân chứng lịch sử (nhưng nay những nhân chứng sống không còn). Và lời kể của đồng chí Nguyễn Văn Trọng (Phó Bí thư Tỉnh uỷ năm 1949) được Tầm Vu sử dụng làm tư liệu trong cuốn Cuộc Khởi Nghĩa Nam Kỳ Tháng 11 Năm 1940.

 

—————–

Tác giả Lê Minh Đức là phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử tỉnh Tiền Giang

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *