Tài Liệu, Truyện Chữ

Miền Tây trong Chiến dịch Nhổ cỏ U Minh

Nhà văn Diệp Hồng Phương

Miền Tây trong Chiến dịch “Nhổ cỏ U Minh”

TRUYỆN KÝ CỦA DIỆP HỒNG PHƯƠNG

NVTPHCM- Tháng 9 năm 1969, địch mở chiến dịch “Nhổ cỏ U Minh” đánh phá vùng căn cứ cách mạng rừng U Minh, theo hai hướng.

Hướng thứ nhứt: Càn quét, đánh phá từ U Minh Thượng xuống U Minh Hạ nhằm xóa sạch các chỉ huy sở cấp Quân khu, kho tàng võ khí và các điểm tập kết võ khí Đoàn 962. Lực lượng huy động là một trung đoàn của sư đoàn 9 bộ binh, 2 tiểu đoàn thủy quân lục chiến, 4 tiểu đoàn biệt động quân. Trên đường sông, 4 giang đoàn đánh bộ, 3 giang đoàn xung phong, hải đoàn Hắc giang (Năm Căn) khống chế các con sông Đầm Chim, Đầm Dơi, Cái Lớn.

Bộ binh địch được yểm trợ bởi ba tiểu đoàn pháo bờ biển, hải đoàn 41 Mỹ áp sát vùng biển Cà Mau. Trên bầu trời U Minh, máy bay trinh sát L.19 chỉ điểm cho trực thăng võ trang cùng các loại máy bay phản lực ném bom, bắn phá vùng căn cứ, vùng giải phóng.

Hướng thứ hai: Đánh phá U Minh Thượng là vùng căn cứ Khu ủy Khu Tây Nam bộ, từ An Biên kéo dài xuống sông Ông Đốc. Địch huy động hai trung đoàn thuộc sư đoàn 21 bộ binh, lữ đoàn B thủy quân lục chiến, nhiều giang đoàn với hàng chục tiểu đoàn bảo an và nhiều đơn vị pháo binh, máy bay chiến đấu, trực thăng võ trang… mở hướng tiến công vào Vĩnh Bình, Kè Một,Tuần Thơm và khống chế tuyến sông Ba Đỉnh và cắt đứt đường dây vận chuyển 1C.

Từ năm 1966, do đường vận chuyển bằng tàu không số từ miền Bắc vào Nam Cà Mau và vùng biển miền Nam gặp khó khăn phải tạm ngưng, Khu ủy Khu 9 chủ trương sử dụng lại đường 1C đã có từ thời kháng chiến chống Pháp nhằm đưa súng đạn từ biên giới Campuchia về Rạch Giá, U Minh.

Đường vận chuyển 1C nối từ tỉnh Kompongtrach, Campuchia, băng ngang kinh Vĩnh Tế, cắt rừng tràm Trà Tiên, theo kinh Kháng Chiến xuống tới vùng Kinh Hãng, tới Rạch Cái Nứa (Vĩnh Bình) nơi đóng hậu cần Quân khu 9. Gay go nhứt là đoàn vận chuyển 1C phải vượt liên tỉnh lộ 8A (nay là quốc lộ 80) tại cây số 15 xã Giục Tượng rồi về Miệt Thứ, U Minh.

Thanh niên xung phong tỉnh Rạch Giá với 800 đội viên làm nhiệm vụ vận chuyển võ khí, trong số này có gần 600 đội viên là nữ. Các cuộc vận chuyển, vượt lộ đều diễn ra ban đêm.

Ba sư đoàn 7, 9, 21 thay phiên nhau đánh phá, bao vây khu vực Hòn Đất, Hòn Me, Hòn Sóc và mở rộng ra Sóc Sơn, Nam Thái Sơn, Mỹ Lâm… Bảo an Giồng Riềng, Tân Hiệp thường phục kích quốc lộ 80 đoạn Giục Tượng để chia cắt đường vận chuyển 1C.

Trong chiến dịch “Nhổ cỏ U Minh”, nhận biết âm mưu của địch là đánh chiếm tới đâu lập đồn bót tới đó; chủ trương của Khu ủy và Quân khu Tây Nam bộ là bằng mọi giá phải bảo vệ rừng U Minh làm chỗ dựa vững chắc, làm điểm tựa phản công và cùng lúc các lực lượng chủ lực, địa phương, du kích phối hợp đánh địch. Đặc biệt các đội quân đặc công, an ninh xã và du kích phản công, tập kích sau lưng địch; phá đường giao thông, đánh tàu địch trên sông ngăn chận tiếp tế.

Trên sông Ba Đình, lực lượng võ trang bắn chìm, cháy 10 giang thuyền, diệt gần 300 tên địch.

Một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 2 đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn địch đổ quân bằng trực thăng tại kinh Tám Ngàn (Thới Bình), hậu cần Quân khu phối hợp du kích các xã Khánh An, Khánh Lâm, Ông Đốc diệt và làm bị thương 74 tên, bắn rơi một trực thăng; pháo  binh Quân khu tập trung đánh hủy diệt căn cứ nổi của hải quân địch ở vàm Ông Đốc…

Tháng 11 năm 1969, máy bay B.52 địch rải thảm bom phía đông kinh Thứ Mười Một yễm trợ cho trung đoàn 32 và trung đoàn 33 (sư đoàn 21) đánh vào U Minh Thượng, chiếm giữ các dòng kinh, đánh vào Kinh Làng (Đông Thái) chốt ở Xẽo Lá (Đông Thạnh) và Mương Đào (Vân Khánh)

Sáng ngày 6 tháng 11 năm 1969, các đơn vị võ trang đồng loạt tiến công căn cứ địch ở Thứ Mười Một, diệt gọn các sở chị huy của lữ đoàn A thủy quân lục chiến, giang đoàn 74, bắn chìm 8 tàu địch.

Bị dân quân ta đánh khắp nơi, ngày 17 tháng 11 năm1969, địch rút quân khỏi U Minh, kết thúc cuộc hành quân bình định lấn chiếm U Minh lần thứ nhứt.

Ngày 24 tháng 2 năm 1970, địch lại tập trung quân tiến hành bình định lấn chiếm U Minh, với quyết tâm “Nhổ cỏ U Minh” lần thứ hai. Hai trung đoàn 32 và 33 của sư đoàn 21, lữ đoàn A thủy quân lục chiến hành quân theo ven biển An Biên. Sư đoàn 9 và trung đoàn 9 Thiết giáp tiến đánh Vĩnh Thuận.

Cũng như lần thứ nhứt chiến dịch “Nhổ cỏ U Minh”, lần thứ hai địch gặp sự chống trả quyết liệt của quân và dân vùng căn cứ. Trung đoàn 2 Quân khu chận đánh trung đoàn 33 sư đoàn 21, diệt hàng trăm tên, xóa sổ sở chỉ huy địch. Các đơn vị võ trang địa phương, du kích các xã liên tục đánh diệt tàu địch trên sông…

Ngày 13 tháng 3 năm 1970, cuộc hành quân lấn chiếm U Minh lần thứ hai kết thúc thảm hại. Chiến dịch “Nhổ cỏ U Minh” của địch tạm ngừng, tình hình chiến sự giảm đi cường độ khốc liệt của đạn bom phi pháo.

Cuộc gặp ở rừng đước nam Cà Mau

Trong những ngày địch càn quét, ông Ba Hương, Tư Hoàn và hai chiến sĩ cận vệ rời U Minh Thượng, đi về phía sông Trèm Trẹm. Đầu năm 1970, đoàn công tác An ninh Miền di chuyển về Cây Tàng, nam Cà Mau trước đợt hai “Nhổ cỏ U Minh” của địch. Qua đợt di chuyển này, ông Ba Hương và ông Tư Hoàn đã chỉ đạo cấp ủy và lãnh đạo an ninh các địa phương, nắm tình hình địch-ta cụ thể; có phân tích nguyên nhân, biện pháp khắc phục…

Căn chòi làm việc của ông Ba Hương nằm ven rừng đước ở Vàm Nước Trong, hôm đó đón một vi khách đặc biệt. Đó là ông Mười Hương, tức Trần Quốc Hương, trưởng ban An ninh T4, căn cứ đóng ở Bến Tre.

Ông Mười Hương tên là Trần Ngọc Ban, người miền Bắc, năm 1954 được Trung ương cử vào Nam gầy dựng mạng lưới tình báo tại Sài Gòn. Lưới điệp báo do ông Mười Hương phụ trách đã khai thác được nhiều thông tin của địch mang tính chiến lược.

Năm 1958, Mười Hương bị địch bắt giam đến sau ngày Ngô Đình Diệm bị lật đổ, năm 1964, mới được thả ra. Ông về Trung ương Cục, rồi được rút về Bắc làm Cục trưởng Cục Kỹ thuật, thời bộ trưởng Nội vụ Trần Quốc Hoàn

Năm 1969, ông Ba Bường ra miền Bắc báo cáo công tác và trị bệnh. Theo đề nghị của ông Ba Bường, Bộ Công an điều động ông Sáu Đại (Hồ Văn Đại) và ông Mười Hương (Trần Quốc Hương) là các cán bộ cao cấp có trình độ nghiệp vụ về Nam bổ sung cho ban An ninh Trung ương Cục. Ba người vào Nam bằng đường máy bay đến Pouchen Tong, rồi đi đường giao liên bộ về R.

Sáu Đại được phân công về đội cảnh vệ.

Ông Mười Hương là người có quá tình hoạt động tình báo trong lòng địch nên được phân công ủy viên ban An ninh, phụ trách C.48 tức tiểu ban tình báo.

Tháng 9 năm 1970, anh Tư Trọng (Nguyễn Tài) trưởng ban An ninh T4 bị địch bắt. Đầu năm 1971, ông Mười Hương được ông Mười Cúc đưa về khu Sài Gòn-Gia Định phụ trách an ninh, nhân chuyến đi của ông Mười về Khu Sài Gòn-Gia Định nhận nhiệm vụ bí thư. Lúc đó văn phòng và các cơ quan T4 bị địch đánh bật khỏi vùng Tam giác sắt, di chuyển sang đất Campuchia, Tây Ninh, có vài bộ phận chạy về tận Bến Tre, Trà Vinh …

Ông Mười Hương qua Cà Mau với thế họp pháp. Lính đồn chận ghe máy, vỏ lãi xét giấy căn cước đồng bào không để ý người đàn ông “Bắc kỳ” bịnh rề rề, ho húng hắng.

Ông Ba Hương rất mừng vì gặp lại Mười Hương đầy nhiệt tình và trách nhiệm rất cao, ông rót trà mời ông Mười Hương, hỏi thăm sức khỏe từng anh em ở An ninh Miền, anh em T4.

Cuộc gặp tại rừng đước nam Cà Mau giữa phó ban An ninh Trung ương Cục và trưởng ban An ninh Khu Sài Gòn-Gia Định (T4) mang nhiều ý nghĩa. Sau cuộc gặp, một phần trong mạng lưới điệp báo T3 được chuyển giao về T4 cho ông Mười Hương, qua một nhân vật đóng vai trò chuyển tiếp là anh Hai Tân tức Nguyễn Phước Tân lúc này đang ở Sài Gòn.

Công việc bàn bạc vừa xong, thì địch đổ quân xuống Thanh Tùng, Cây Tàng… Lần này địch vô êm không bắn pháo dọn đường, không cho máy bay ném bom, chỉ có mấy chiếc L.19 quần đảo trên bầu trời.

Các đơn vị bảo vệ căn cứ bám sát địch.

– Địch “Nhổ cỏ” nữa à?–Ông Mười Hương trầm tĩnh hỏi. Lúc đó Ba Nghĩa và Bảy Cao đang thu xếp đồ đạt. Bảy Cao hỏi ông Mười có cất giấu tài liệu gì chưa, địch có thể sẽ vào đến Cây Tàng. Ông Mười chỉ thùng đạn sắt. Vậy là Ba Nghĩa gật đầu xách thùng đạn bước ra ngoài:

–  Để tụi tui giấu cho, anh Mười đừng lo.

Ông Mười Hương ho húng hắng:

–  Các chú cẩn thận nhé. Quan trọng lắm đấy!

Anh Ba Nghĩa chôn thùng tài liệu của ông Mười Hương dưới cây cóc bị ngã vì pháo địch, ngoài sân.

Ông Ba Hương đi tới đi lui như chờ đợi điều gì, tỏ vẻ sốt ruột.

Tư Hoàn giữ im lặng vì ông không phải lo về tài liệu. Tư Hoàn giúp Hai Hồng viết xong nội dung chương trình huấn luyện, đã giao cho Hai Hồng  rồi. Các ghi nhận khác ông ghi nhớ trong đầu.

Cơ yếu An ninh Khu đang liên lạc với người của ta trong bộ phận truyền tin của sư đoàn 21. Một tiểu đoàn địch đang lủi vô rừng đước, tiến thẳng vô đây.

Năm Mai bước vào nhà:

– Anh Ba…

– Năm Mai hả? Tin tức sao?

– Nó đi thẳng đây, anh Ba!

Từ bộ phận điện đài, máy bộ đàm C25 liên lạc xác định vị trí và hướng tiến quân của lính sư đoàn 21.

Ông Ba Hương, Năm Mai xem bản đồ và trực tiếp nghe báo cáo của bộ phận điện đài. Ba Hương nghe điện, cân nhắc các tình huống có thể xảy ra. Địch càn đường rừng, nếu chúng cứ đi thẳng thì đến ngay vị trí này, thời gian không quá hai tiếng đồng hồ.

Đến 2 giờ chiều, điện đài ta nhận định lính sư đoàn 21 còn 2 cây số nữa là đến nơi. Ba Hương ra lệnh rút sâu hơn theo hướng ra trại giam Sóc Trăng, nếu địch bám theo nữa thì tính chuyện đi ra biển.

Ông Ba Hương giao Bảy Cao bảo vệ ông Mười Hương. Bảy Cao xách cái bồng ny long của Mười Hương, nói:

– Mình rút anh Mười!

Đến 5 giờ chiều, lính sư đoàn 21 vô đến căn nhà lá của ông Ba Hương, nơi hai ông trưởng An ninh bàn bạc công chuyện trước đó.

Sáu Nam điện đài rà bắt sóng thông tin của địch trong nhà, cho biết như vậy. Ông Ba Hương dặn Sáu Nam tiếp tục theo dõi sóng vô tuyến của địch, báo cáo từng giờ để ông liệu.

Lát sau Sáu Nam báo cáo:

– Nó đóng quân trong nhà anh Ba rồi!

Trước khi rút đi, anh Ba Nghĩa đã giấu tài liệu của ông Ba Hương trong cái khạp, chôn dưới ván. Địch vô nhà thế nào cũng lục soát, liệu tài liệu cất giấu có bị phát hiện không? Ba Hương lo lắng hỏi:

– Sáu Nam “nghe” nó có lấy tài liệu mình không?

– Không, anh Ba.

Đêm đó Ba Hương không ngủ được, anh Sáu Nam điện đài cũng không ngủ được. Máy vô tuyến tít tít tè tè cả đêm. Ba Hương biết địch đổ quân vô Cây Tàng, mai có thể tiến qua Tân Lợi, Tân Duyệt…

Nhưng ngày hôm sau, không hiểu vì sao địch rút quân về Đầm Dơi. Anh em trở lại nhà. Tài liệu không bị địch phát hiện, đồ đạt trong nhà còn nguyên.

– Đêm qua tụi lính ngụy “ngủ nhờ” nhà mình! -Ông Ba Hương vừa nói vừa cười.

Khu Ủy Khu 9 trong tầm hủy diệt của B.52

Do địch đánh phá dọc đường từ U Minh về Rạch Giá, nên ông Ba Hương phải về lại sông Trẹm ở U Minh, đi lên rừng tràm rồi vòng lại An Biên dự họp Khu ủy và gặp Tỉnh ủy Rạch Giá nắm tình hình chung.

Ông Mười Hương cùng đi với ông Ba Hương.

– Mình đi đường vòng an toàn hơn Tư Hoàn!– Ba Hương nói- Đi vỏ lãi trong rừng, có Ba Nghĩa, thì khỏi  lo.

Nói vậy thôi chớ trên đường đi, đôi lúc Ba Nghĩa phải lủi vô rừng đước để tránh thằng L.19 trên cao đảo tới đảo lui dòm ngó.

Về gần căn cứ Khu ủy, gặp ban Nông dân khu đang làm căn cứ ở Bàu Sấu, ông Ba Hương bảo hai cận vệ dừng lại đào hầm, căng bạt nhựa ở tạm.

Khuya hôm đó B.52 đánh bom rung rinh mặt đất. Vệt bom xéo qua chỗ ban Nông dân, cách chừng năm trăm mét.

Hôm sau, Bảy Cao và Ba Nghĩa cùng ông Ba Hương đi về hướng sông Cái Tàu dự họp Khu ủy. Nhìn thấy mấy hố bom bự tản thần, tràm đỗ ngã hàng loạt theo vệt bom… Bảy Cao hết hồn nhớ lại trận B.52 rải thảm bom đầu tiên bên Cà Mau mà mình và Ba Nghĩa chứng kiến. Bom B.52 rải thảm tàn phá như vậy sao?!

Ông Ba Bường (Phạm Thái Bường) vừa được điều động về làm Bí thư Khu 9, bí danh Tư Phòng, gặp lại ông Ba Hương mừng lắm, ôm hỏi:

– Khỏe hôn, ông “Cò Ba Hương”?

-Khỏe, anh Ba. Chị Ba, các cháu ở miền Đông cũng khỏe? – Ông Ba Hương cười hỏi.

– Khỏe. Anh em đưa bả lên trển thì tôi có lệnh về đây. Hà hà… Nhớ thì nhớ lắm, nhưng … được rảnh tay đánh giặc!

Hai ông Mười Hương và Tư Hoàn vui mừng gặp lại “ông Thường trực Ba Bường” tại cứ Khu ủy.

Gặp anh Hai Văn (Phan Văn Đáng) ở văn phòng Khu ủy, ông Ba Hương kể chuyện hôm qua B.52 mới đánh bên Bàu Sấu:

– Không phải tự nhiên B.52 nó bừa vùng này!

– Ý Ba Hương là sao?

– Nó biết Khu ủy chuẩn bị họp.

Biết ông Hai Văn đã hiểu vấn đề nhưng Ba Hương vẫn phân tích thêm:

– Sức mạnh của B.52 là đánh hủy diệt kho tàng, đánh căn cứ chớ đâu có đánh con rạch Bàu Sấu, con sông Cái Tàu? Anh Hai có nghĩ vậy không?

Hai Văn mím môi, suy nghĩ:

– Nó đánh Khu ủy!

– Đúng! Có thằng chấm “tọa độ” để B.52 đánh mình, đánh ngay lúc mấy ông Thường vụ Khu ủy vừa về. Cũng may vệt bom đi xéo…

Trưa hôm đó lính sư đoàn 21 đổ quân vô rừng tràm, lục lạo bên kia sông Cái Tàu. Quân giải phóng ém sẵn nhưng không có lệnh đánh vì Khu ủy đang họp. Ông Hai Văn đang triển khai Nghị quyết Trung ương cho các ông Thường vụ Khu ủy.

Tiểu đoàn bảo vệ do anh Sáu Quýt chỉ huy giao một đại đội án ngữ vòng ngoài.

Mưa dầm. Máy bay bắn phá trong mưa.

Trong rừng tràm, chị em nấu cơm, khói đùn quanh nhánh lá, mọi người phải chia nhau rung nhánh cây cho tan khói.

Địch đóng quân cách căn cứ Khu ủy một cây số.

Lúc này Ba Nghĩa xin phép ông Ba Hương cho đi thăm vợ.

–  Nhớ quá trời! – Anh Ba Nghĩa phóng vỏ lãi đi trong rừng tràm về với Hai Nghĩa một đêm. Sáng hôm sau, lúc trở lại thì Ba Nghĩa phát hiện một chuyện lạ. D10 bảo vệ Khu ủy đóng ở sông Cái Tàu thì trực thăng chở tụi sư đoàn 21 bay qua Cái Tàu.

Anh Ba Nghĩa báo với ông Ba Hương chuyện mình thấy.

Hôm qua ông Ba Hương phán đoán là có nội gián, giờ Ba Nghĩa nói nữa thì ông khẳng định sự việc “nội gián ở D10”.

Ông Hai Văn và ông Ba Bường nghe báo cáo rất đồng tình với nhận định của Ba Hương, nên quyết định điều D10 qua bên kia sông Đốc. D10 chuyển đi, lập tức địch chuyển hướng đánh phá và trực thăng bốc lính sư đoàn 21 đổ qua bên kia sông Đốc.

–  Tụi 21 tính hốt trọn Khu ủy! – Hai Văn nhìn bầy trực thăng bay qua sông Đốc lầm bầm- May mà Ba Nghĩa phát hiện.

Ba Hương cười khen:

– Ba Nghĩa về với vợ một đêm… coi bộ sáng ra!

Trong những ngày Khu ủy họp, trời mưa dầm. Anh em cần vụ kiếm củi chụm mà không có, Ba Nghĩa có “sáng kiến” bẽ kèo ong chụm. Rồi thì anh lội vô rừng bẽ một số kèo ong của dân trong vùng, lấy hết chở một xuồng về giao nhà bếp chẻ ra chụm. Chuyện này Ba Nghĩa không dám nói cho ông Ba Hương, nhưng dân họ thưa, nên…

Ông Ba Hương kêu Ba Nghĩa vô hỏi:

–  Kèo ong của dân sao chú dám lấy chụm?

Ba Nghĩa dè dặt đáp:

– Kèo ong là tràm khô chụm không khói, an toàn căn cứ! Mấy ngày mưa hoài, không thấy mặt trời, củi lửa ướt hết trơn…

Ba Nghĩa nói đúng, chẳng qua vì trời mưa dầm mấy ngày nay không có củi chụm, nên Ba Nghĩa làm ẩu vậy. Ba Hương nghiêm giọng, nhưng nói nhẹ:

– Thôi đừng lấy của người ta nữa. Anh em làm sao nấu cơm được thì nấu…

Ông Ba Hương nói vậy, nên Ba Nghĩa không dám bẽ kèo ong nữa, mà đi phân trần với Bảy Cao “tánh mạng mấy ông Thường vụ ở đây, mấy cha gác kèo chỉ hy sinh mấy xuồng kèo ong thôi mà…”

Tình hình địch căng thẳng thì ông Ba Hương cũng căng với anh em bảo vệ. Không căng thì anh em cấp dưới không làm tròn nhiệm vụ; không căng, thì anh em sơ hở, mà mình sơ hở thì nó đánh mình liền, hao tốn xương máu.

Sau cuộc họp, giao liên chuẩn bị đưa ông Mười Hương về T4 thì văn phòng Khu ủy gởi tặng một đôi giày san-dan nhựa mới toanh, để ông Mười mang đi đường. Cầm đôi giày nhựa mới trên tay, “ông già người Bắc” nhỏ nhẹ nói: “Các anh làm cho nó cũ tí đi. Mới quá, lộ bí mật”.

Đôi giày mới được anh em bôi sình, lấy nhánh cây chà đi chà lại nhiều lần cho có nhiều vết xước…

Nhà văn Diệp Hồng Phương đi thực tế ở Mũi Cà Mau năm 2010

Đường dây An ninh

 Đường dây giao liên của An ninh Khu 9 ra đời từ thời kháng chiến chống Pháp với những chiếc xuồng chèo, các nút giao liên rải ra các vùng sông rạch Đầm Dơi, Cái Nước, Năm Căn. Qua tài tổ chức của Ba Hương, lúc đó là bí thơ huyện ủy Giá Rai và là trưởng ty công an tình Bạc Liêu; đường giao liên an ninh ngày thêm vững vàng, bao trùm khu Tây Nam bộ..

Qua thời đánh Mỹ, tổ chức giao liên của ban An ninh và Quân báo Khu Tây Nam bộ được xây dựng, phối hợp hoạt động, đã gắn với công tác trinh sát, chuyển giao tin tức, đưa đón cán bộ đi công tác chuyển vùng.

Các tỉnh đều có các tổ giao liên riêng và nối với nhau thành đường dây bí mật ngược xuôi miền Tây Nam bộ, lên Sài Gòn, lên miền Đông…

Chị Năm Tuyết tên là Tô Ánh Tuyết, sanh năm 1946, đi thơ cho ông Ba Hương từ năm chín tuổi. Chị là con thứ năm của ông Tô Văn Mười (Hai Trí) và bà Lâm Thị Hai, gọi ông Ba Hương (Lâm Văn Thê) là cậu Ba. Ông Ba Hương “bắt” Năm Tuyết làm con nuôi dắt theo lúc ông làm bí thư huyện Giá Rai và giao cho vài công việc nho nhỏ: nấu nước pha trà, đi liên lạc, rồi đi thơ …

Năm 1954, chị Năm Tuyết bắt đầu đi thơ. Các chú chỉ cách giấu thơ trong chiếc cần câu. Cần câu cá rô rất dài, có đốt dưới cùng khoét lổ nhét thơ vô sâu rồi trét đất sình bên ngoài. Năm Tuyết giả bộ đi câu cá, vừa đi thơ cho ông Bảy Thạng (Trần Văn Bỉnh); vừa dò la tin tức giặc Pháp ruồng bố chỗ này, chỗ kia để báo cáo với cậu Ba và các chú. Từ Khánh Bình Tây qua đập Ba Nhỏ, Giáp Nước, Đầm Cùng, Bảy Háp… đều có dấu chân cô giao liên Năm Tuyết. Những địa danh Giáp Nước, Đầm Cùng, Bảy Háp… sau này hình thành những “nút” trên đường dây giao liên bí mật của ông Ba Hương.

Qua thời chống Mỹ, Năm Tuyết và bà Lâm Thị Hai đều làm giao liên cho An ninh Khu 9. Ông Hai Trí là ủy viên ban kinh tài Cà Mau, sau chuyển về ban Kinh tài Khu thì hai mẹ con chị Năm Tuyết cùng về với ông Hai Trí, làm công tác chuyển tiền từ Campuchia về, theo đường dây bí mật của ông Lữ Minh Châu (Mẹ ông Lữ Minh Châu là chị thứ năm của ông Tô Văn Mười).

Từ năm 1965, ông Tô Văn Mười được rút về văn phòng ban An ninh Khu Tây Nam bộ, làm bí thơ chi bộ.

Năm 1971…

– Chuyện này phải giao Năm Tuyết!– Ông Ba Hương cân nhắc tình hình địch-ta rồi nói với Hai Trí về quyết định cử Năm Tuyết đi đón một vị khách quan trọng từ Rạch Giá qua Cà Mau, đón tại vùng chợ búa sầm uất Hộ Phòng.

Ông Ba Hương tính toán, ngoài việc thông thạo đường sông rạch, lái vỏ lãi giỏi, Năm Tuyết còn là cháu của ông, tính ý Năm Tuyết ông hiểu.

–  Cậu Ba cứ giao cho nó – Hai Trí rất tin tưởng con gái mình. Cùng đi với Năm Tuyết còn có ông Tám Thợ là người có nhiều kinh nghiệm đối phó với lính bót, lính chợ.

Năm Tuyết là người lanh lẹ, thông thuộc đường dây, rành rẽ đường sông nước nhưng bác Tám Thợ nói “nhìn bộ dạng mầy biết ngay là dân trong vùng giải phóng”. Muốn ra chợ, Năm Tuyết phải có sự chuẩn bị và nghi trang thành dân chợ. Năm Tuyết học thuộc lòng tên họ, ngày tháng năm sanh ghi trong giấy căn cước giả để lính xét căn cước hỏi thì nói cho trúng. Rồi phải đeo bông tai, mặc áo bà ba trắng, mang dép kẹp…

– Thấy mầy giống con gái ở chợ rồi nghen Tuyết!- Bác Tám Thợ gật đầu chấp nhận.

Chuyến công tác ra Hộ Phòng là vùng địch tạm chiếm, bác Tám Thợ đóng giả vai “ông ngoại” với bộ bà ba đen vải tám, miệng ngậm điếu thuốc vấn bập bập và đi “chân không”.

Trời vừa sáng, Năm Tuyết lái vỏ lãi đưa ông Tám Thợ cặp bến chợ Hộ Phòng. Trên chợ đông người mua bán tấp nập, dưới sông vỏ lãi chen chúc, ghe hàng neo đậu sát nhau. Tiếng ồn của người, của máy đuôi tôm nổ phành phạch rồi tiếng sóng ập vào bờ rào rào mỗi lần có chiếc ghe máy chạy qua trên kinh xáng

Ông Tám Thợ dặn Năm Tuyết trước khi lên bờ:

– Bất kỳ giá nào cũng không được khai…

– Thà hy sinh! – Năm Tuyết lập lại quyết tâm

Ông Tám lên bờ, biến mất trong đám đông.

Chừng hai chục phút sau đó có hai tên lính ôm súng đi thẳng đến chiếc vỏ lãi của Năm Tuyết có lẽ  muốn hù dọa kiếm tiền. Một tên hỏi:

– Hồi nảy mầy chở ông già. Ông già đâu?

NămTuyết hết sức bình tĩnh trả lời:

– Ông ngoại tui đi khám bịnh rồi!

– Khám bịnh ở đâu?

Năm Tuyết giả vờ nói:

– Tui đâu có biết. Ông ngoại biểu tui chờ…

Hai tên lính bỏ đi. Năm Tuyết rất lo bị lộ.

Trưa, ông Tám Thợ trở lại với ông khách tóc hoa râm, đeo kiếng trắng, tay cầm tờ báo đi thẳng xuống vỏ lãi nhanh nhẹn như ông Tám Thợ. Ông Tám ngồi mũi, ông khách ngồi giữa.

–  Đi con! – Ông Tám kêu.

Năm Tuyết nổ máy, trở mũi vỏ lãi ra ngoài, phóng đi. Rời khỏi vùng đất Hộ Phòng đông đảo, Năm Tuyết thở ra nhẹ nhỏm nghĩ mình đã thoát khỏi hai thằng lính ban nảy dò xét, nên phóng vỏ lãi thật lẹ đưa ông khách về vùng giải phóng. Nhưng,… một tốp lính khác đứng trên bờ đưa tay ngoắc vỏ lãi làm cô giựt mình.

Ông Tám nhìn tốp lính, nhận xét không phải lính kiểm soát ghe xuồng trên sông rạch, nên ra dấu hiệu bình tĩnh rồi kêu Năm Tuyết cho vỏ lãi cặp vô bờ. Mấy tên lính lao nhao:

– Cho có giang một khúc coi tía!

– Con gái tía hả?

Chỉ có năm tên lính xuống vỏ lãi vì không thể chở nhiều. Hai ông già với mấy tên lính ba lô súng ống ngồi chật cứng. Năm Tuyết nghĩ trong đầu hai chữ “hy sinh” lúc đưa chiếc vỏ lãi ra ngoài, lao đi…

Ông Tám Thợ ngồi mũi làm thinh mưu tính nếu có tình huống xấu xảy ra sẽ đối phó ra sao? Ông khách đeo kiếng trắng lót tờ báo dưới mông đít, im lặng.

Bọn lính giở trò chọc ghẹo Năm Tuyết nên cô bình tĩnh trở lại, nhoẻn miệng cười:

– Mấy ông ngồi xích xích xuống dưới nầy cho ông ngoại tui ngồi…

Ông Tám Thợ ngồi đàng mũi mà tim đập thìn thịch. Cũng may, bọn lính chỉ đi một đoạn rồi lên bờ. Tụi này là lính đồn Vàm Đầm.

Lính đồn lên bờ như trút hết nỗi lo trong lòng ông Tám Thợ, ông vội ra lệnh cho Năm Tuyết chạy vỏ “hết tốc lực” về hướng Vàm Sọ Đầu là đường đi thẳng vào vùng căn cứ. Có thể tụi lính đồn nhìn thấy hay nghi ngờ điều gì đó sẽ bắn mọt-chê theo.

Ông Tám vừa dứt lời thì có tiếng mọt-chê đề pa đàng xa. Đúng là tụi lính đồn Vàm Đầm bắn theo.

Đạn nổ trên sông dựng mấy cột nước rất cao. Hoảng quá, Năm Tuyết cho vỏ lãi phóng lẹ hơn, chẳng mấy chốc khuất dạng sau rừng đước.

Lúc này ông khách đeo kiếng mới nhớm đít lên lấy tờ báo ra coi có ướt không. Tờ báo và tài liệu gì đó giấu bên trong không ướt nước. Ông khách cười nói:

– Khỏe rồi. Về Xóm Tắc luôn hả anh Tám?

– Phải. Để anh Sáu coi Xóm Tắc có khác xưa hông nghen!

“Ông khách đeo kiếng trắng” đó là cán bộ cao cấp từng lãnh đạo phong trào cách mạng nhiều năm ở miền Tây Nam bộ, anh em đồng chí thường gọi thân mật là “anh Sáu Dân”, tên gọi khác của ông là Võ Văn Kiệt.

Năm 1970, ông Võ Văn Kiệt được Trung ương điều trở lại miền Tây, làm bí thư Khu ủy Khu 9; ông Ba Bường được rút về Trung ương Cục làm trưởng ban an ninh. Sau các đợt “Nhổ cỏ U Minh” của địch, tình thế chiến trường miền Nam hết sức căng thẳng, các vùng giải phóng của ta lần lượt bị giặc lấn chiếm. Sông Cái Tàu, Trèm Trẹm, Đầm Chim, Đầm Dơi… luôn có tàu tuần của địch ngược xuôi, bắn phá ven  bờ.

Ông Võ Văn Kiệt theo đường dây an ninh từ Trung ương Cục qua Campuchia, về Châu Đốc, sau đó được một cơ sở cách mạng là Sáu Hoa từ Sài Gòn lái xe Hoa Kỳ về Châu Đốc đón ông. Ông ngồi xe về Long Xuyên thăm bà con ít hôm rồi bí mật ra vùng giải phóng U Minh Thượng gặp Khu ủy.

Về lại miến Tây Nam bộ, ông lấy bí danh là Tám Thuận.

Làm việc với Khu ủy Khu 9 về bài học kinh nghiệm Tổng Tiến công Tết Mậu Thân tại miền Tây xong, ông Tám Thuận theo đường giao liên của an ninh Khu 9 về Cà Mau. Ông Tám Thợ và chị Năm Tuyết đã đón ông tại Hộ Phòng đưa thẳng vào Xóm Tắc.

Cùng về Khu 9 với ông Tám Thuận còn có một tay quân sự giỏi từ Hải Phòng vào Nam năm 1963 bằng tàu không số, rồi về Bộ Chỉ huy Quân sự Miền, năm 1971 được điều về làm Tư lệnh Quân Khu 9, đi theo đường giao liên Quân báo. Đó là Đại tá Sáu Nam, tên ông là Lê Đức Anh.

Đường giao liên quân báo khu Tây Nam bộ gắn với các hoạt động của lực lượng võ trang cách mạng từ năm 1946. Từ Cần Thơ, đường dây lan rộng ra, dẫn đến các vùng căn cứ sâu trong Đồng Tháp Mười, về tận Đầm Dơi, U Minh Thượng

Năm 1948, chị Lê Thị Kim Duyên, còn gọi là Ba Duyên, quê Tân Phú Thạnh, quận Châu Thành A, tỉnh Cần Thơ, bắt đầu đi thơ cho Quân báo Quân khu 9, lúc đó Ba Duyên mười ba tuồi.

Lúc đầu, bà má Tư dẫn Ba Duyên vô chợ Cần Thơ, đến lò bánh mì Hiệp Sanh vừa mua bánh mì ăn, vừa nhận tài liệu. Ba Duyên mê nhìn mấy ổ bánh mì vừa ra lò thơm phức, nóng hổi không thấy bà má Tư đã nhận miếng giấy nhỏ xếp bốn, kẹp trong số tiền thối lại, nhét vô túi áo.

Mua bánh mì xong, bà má Tư dắt Ba Duyên về. Ngồi trên xuồng về xóm, Ba Duyên ăn hết ổ bánh mì vừa thơm vừa giòn một cách ngon lành, lúc đó má Tư bận chèo xuồng chưa ăn được..

Sau này Ba Duyên một mình đến lò bánh mì Hiệp Sanh nhận thơ liên lạc và nhận công tác trực tiếp từ thầy Đội Nghể (ông nầy là người của ta, làm việc cho Tây)

Thời kỳ sau Hiệp định Genève, giao liên Quân báo Khu Tây Nam bộ do ông Hoàng Hà trưởng ban và ông Lê Hùng Phong, phó ban phụ trách. Căn cứ Quân báo đóng ở Vàm Vi, xã Tường Long, Châu Thành B, Cần Thơ.

Tháng 7 năm 1954, ông Hai Tân (Nguyễn Phước Tân) làm công tác binh vận ở tỉnh Sa Đéc, được Khu ủy Khu 9 điều động lên Ban Binh vận Khu 9. Hai Tân đến Cần Thơ hợp pháp, ở lại nhà bà Bảy (Trần Thị Nữ) móc cô Ba Duyên ra nối với Hai Tân giữ hộp thư ở Tân Phú Thạnh. Bằng cách giả làm dân miền quê đi bán lá sen, bắp chuối… bà Bảy và Ba Duyên chèo xuồng lòn lách trong vùng sông rạch, tránh né bót lính Cao Đài, lính Hòa Hảo ra chợ Cần Thơ.

Giao liên Quân báo thời kỳ nầy tuy hoạt động hạn chế nhưng có nhiều kết quả.

Giao liên Z.28

Năm 1962, ban An ninh Khu Tây Nam bộ được thành lập thì cô Ba Duyên được điều từ Quân báo sang, theo ý kiến của Hai Tân, lúc này là cán bộ tiểu ban điệp báo An ninh Khu 9. Cô Ba Duyên được bố trí vào bộ phận giao liên An ninh Khu 9 do ông Bảy Hoàng điệp báo trực tiếp phụ trách, được phân công bám địa bàn Cần Thơ, tổ chức “hộp thơ” trong nội thành.

Trong Tổng tiến công Tết Mậu Thân, giao liên An ninh Khu 9 có nhiều đóng góp về thông tin liên lạc cũng như đưa đón lãnh đạo Khu ủy an toàn.

Năm 1969, chi bộ xã Tân Phú Thạnh đang họp trong chòi lá ngoài đồng, thì lính ngoài lộ kéo vô. Cô Ba Duyên đang giả vờ cắt cỏ để cảnh giới, thấy lính vội đi thẳng ra đón đường. Lính kêu đứng lại, cô bỏ chạy vô vườn cây cối um tùm. Tụi lính nổ súng, cô vẫn chạy, nhưng không thoát. Tiếng súng địch đã báo động cho các đảng viên chi bộ xã rút ra đồng bưng an toàn.

Lính đánh năm lần, bảy lượt Ba Duyên chỉ nói “đi cắt cỏ, không biết gì”. Chúng giam cô sáu tháng với tội “không có giấy căn cước”, rồi thả về.

Tháng 7 năm 1969, ông Hai Tân cho người đến đón Ba Duyên về Sài Gòn, sau đó giao liên đưa Ba Duyên lên cứ Trung ương Cục đóng bên Campuchia để nghỉ dưỡng. Nghỉ dưỡng xong, Ba Duyên được giữ lại ban An ninh và trở thành lính của ông Sáu Hoàng (Cao Đăng Chiiếm)

Trong năm 1969, đơn vị Z.28 ban An ninh Trung ương Cục ra đời làm nhiệm vụ trinh sát võ trang, đánh tình báo địch và tổ chức đường giao liên đưa đón cán bộ. Chỉ huy đơn vị tại miền Đông là ông Tám Trọng, phụ trách khu Thường trực tại Khu 9 là ông Sáu Thành.

Địa bàn hoạt động của giao liên Z.28 là toàn B2, tức địa bàn của Trung ương Cục miền Nam, nối từ căn cứ Trung ương Cục với giao liên T4, T3 và các tỉnh. Giao liên Z.28 ngoài việc đưa đón cán bộ, còn đảm trách một công việc quan trọng là chuyển giao tin tức trong lãnh vực điệp báo.

Giao liên, những chiến sĩ liên lạc của Z.28 lúc đó không nhiều nhưng họ như những con thoi liên tục đi, về đưa đón cán bộ đến nơi đến chốn an toàn. Có thể kể tên vài người trong sô họ: bà Tám Tào lao, bà Bảy Nhạn, ông Sáu Thành… và nhiều người khác nữa.

Tháng 10 năm 1969, cô Ba Duyên được phân công về bộ phận giao liên Z.28 ban An ninh Miền và nhanh chóng có biệt danh Ba Duyên “đội xe hơi”. Do cô Ba Duyên bị địch giam cầm tra tấn nhiều nên đi bộ khó khăn, cô chỉ đi lại bằng xe đò, xe khách. Trong vai người đi buôn hàng biên giới, qua những chuyến xe khách đường dài, Ba Duyên tổ chức mạng lưới giao liên mật, hộp thư mật ở hầu hết các tỉnh.

Đường giao liên do Ba Duyên tổ chức từ căn cứ Trung ương Cục về miền Tây, mạnh nhứt là nút giao  liên của cô Mười (Nguyễn Thị Nhuẩn) ở Nhà Bàng, Châu Đốc xây dựng được cơ sở trong bót lính.

Từ Nhà Bàng, Châu Đốc qua Hồng Ngự, đường dây giao liên Z.28 chia hai nhánh: về Sài Gòn và về Long Xuyên, kết hợp với giao liên An ninh Khu 9 đi Rạch Giá vô U Minh Thượng hoặc qua Cần Thơ về Cà Mau. Tất cả đếu là giao liên công khai, đi đường hợp pháp.

Có trên hai mươi người, là dân làm ăn mua bán sống tại các địa phương, trở thành “giao liên nhân dân” giữ hộp thơ bí mật, phụ trách đường dây dẫn dắt người. Trà Vinh có vợ chồng ông Ba ở Cầu Ngang, Châu Đốc có hai vợ chồng anh Nguyễn Văn Út (Út Nhơn) là thợ may giữ hộp thơ Thốt Nốt, ở Mỹ Tho có vợ chồng ông Tư (bà Tư là chị ruột cậu Lộc, công tác dưới quyền ông Tư Bình ở Khu 9).

Về lại Cần Thơ, cô Ba Duyên móc lại cơ sở cũ và tố chức hoạt động giao liên hợp pháp. Bà Trần Thị Nữ (cô Bảy), cô Tư lò bánh mì Hiệp Sanh là những người dẫn dắt Ba Duyên đi thơ trước Hiệp định Genève, nay là người chị, bà má “giao liên nhân dân” do Ba Duyên phụ trách.

(Trích truyện ký Ông “Cò Ba Hương”,

NXB Công an Nhân dân 2013)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *