Thơ Hay

Trọn bộ những bài thơ chữ nôm của nhà thơ Nguyễn Khuyến phần 4

Hôm nay uct.edu.vn sẽ tiếp nối phần 3 bằng những bài thơ chữ nôm vang danh của nhà thơ Nguyễn Khuyến. Ngôn ngữ thơ Nguyễn Khuyến rất phong phú không những trong cách nói mà còn rất mỹ lệ, gợi cảm trong cách miêu tả. Ông đã có những cống hiến quan trọng làm cho ngôn ngữ đi sát với đời sống  và ông đã thành công trong việc chuyển cái tinh túy của đời thường thành thơ. Hãy cùng nhau theo dõi nhé!

Nội Dung

Nhân sinh ba vạn sáu nghìn ngày,
Thích chí cho nên lắm ngón hay;
Thơ Lý ngâm nga khi mở quyển,
Đàn Nha tình tính lúc lần dây.
Đem cờ vua Thích vui bè bạn,
Mượn chén ông Lưu học tỉnh say.
Bốn cảnh phong quang cùng tuế nguyệt,
Dưới đời tri kỷ mấy mươi tay?

Nghĩ truyện trần gian cũng nực cười!
Giời nào hơn vợ, vợ hơn giời?
Khôn đến mẹ mày là có một,
Khéo như con tạo cũng thời hai.
Giời dẫu yêu vì, nhưng có phận,
Vợ mà vụng dại, đếch ăn ai.
Cớ sao vợ lại hơn giời nhỉ?
Vợ chỉ hơn giời có cái trai!

Quai Mễ Thanh Liêm đã lở rồi,
Vùng ta thôi cũng lụt mà thôi
Gạo dăm ba bát cơ còn kém,
Thuế một vài nguyên dáng vẫn đòi.
Tiếng sáo vo ve chiều nước vọng.
Chiếc thuyền len lỏi bóng trăng trôi.
Đi đâu cũng thấy người ta nói,
Mười chín năm nay lại cát bồi.

Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu,
Lụt lội năm nay bác ở đâu?
Mấy ổ lợn con rày lớn, bé?
Vài gian nếp cái ngập nông, sâu?
Phân thua suy tính càng thêm thiệt,
Tuổi cả chơi bời hoạ sống lâu.
Em cũng chẳng no mà chẳng đói,
Thung thăng chiếc lá, rượu lưng bầu.

Ông đứng làm chi đó hỡi ông?
Trơ trơ như đá, vững như đồng.
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó,
Non nước đầy vơi có biết không?

Mưỡu:
Người đâu tên họ là gì?
Khéo thay chích chích chi chi nực cười.
Vắt tay ngửa mặt lên trời,
Hẳn còn lo tính sự đời chi đây?
Hát nói:
Thấy phỗng đá lạ lùng muốn hỏi:
Cớ làm sao len lỏi đến chi đây?
Hay tưởng trông cây cỏ nước non này,
Chí cũng rắp dan tay vào hội lạc.
Thanh sơn tự tiếu đầu tương bạc,
Thương hải thuỳ tri ngã diệc âu.
Thôi cũng đừng chấp chuyện đâu đâu,
Túi vũ trụ mặc đàn sau gánh vác.
Duyên hội ngộ là duyên tuổi tác,
Chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác.
Cuộc tỉnh say, say tỉnh một vài câu,
Nên chăng đá cũng gật đầu!

Bà già đã bảy mươi tư,
Ngồi trong cửa sổ gửi thư lấy chồng.
Đã trót sinh ra kiếp má đào,
Bảy mươi tư tuổi có là bao ?
Xuân xanh xấp xỉ hàng răng rụng,
Ngày vắng ân cần mảnh giấy trao.
Chữ nhất nhi chung đành đã vậy,
Câu tam bất hiếu nữa làm sao ?
May mà chim được ông chồng trẻ,
Họa có sinh ra được chút nào ?

Bốn cóng kê giường;
Vài chồng cặp sách.
Cơm trắng canh ngon;
Ghế cao chiếu sạch.
Chữ thánh phù;
Câu thiên tích.
Chậu thau rửa mặt, tầm váo tầm vênh;
Điếu sứ long đờm, cóc ca cóc cách.
Thần Cầu Cậy xôi gà tuỳ thích, ông đã nên ông;
Bụt Nam Sơn oản tẻ chẳng từ, khách thời mặc khách.
Nguyên phù thầy đồ dã giả:
Râu ria nhẵn nhụi;
Mặt mũi ngông nghênh.
Văn pha “Nguyên mặc”;
Sách học “Quan hành”.
Chạy gạo chạy tiền, thất điên bát đảo;
Làm gà làm vịt, tứ đốm tam khoanh.
Số tử vi tuần triệt đương đầu, qua vòng vận hạn;
Đất văn học thần đồng phụ nhĩ, may bước công danh.
Nhiên nhi:
Mình lính tính quan;
Khôn nhà dại chợ.
Chơi đã hay ranh;
Cạnh còn mắc hớ.
Vài khoa thi hỏng xót ruột tiền cơm;
Mấy tháng công non, bấm gan thóc nợ.
Vách ông Khổng còn hòm khoa đẩu, mở một vài con;
Ngõ thầy Nhan treo túi đan biều, bảo dăm ba đứa.
Nón sơn úp ngực, đi liểu đi liều;
Bút thuỷ cài tai, sớn sơ sớn sở.
Nghĩ sểnh nhà ra thất nghiệp, cũng bật như cười;
E nằm mát ăn bát đầy, ai nuôi không hở?
Rằng:
Tôi nhà chủ, xin rước thầy ngồi.
Trầu nước đoạn, rượu chè rồi;
Bàn tiền đốn;
Tính cơm nuôi.
Chủ rằng đạo thánh là đạo rộng;
Thầy rằng tuỳ ông còn tuỳ tôi!
Mặt chữ điền vác hẳn lên trên, nết đâu có nết!
Chiếu hàm trượng vắt ngay ngồi giữa, ngôi đã nên ngôi.
Thầy đồ thầy lề;
Học trò học troẹt!
Nghịch như ma;
Đánh như két.
Bộ Sử đầu ;
Pho Dương tiết.
Mẹo hỏi lục kỳ;
Bài ra tam kiệt.
“Đô đô bình trượng ngã;
Thiết thiết phản nhân thiết.”
Chữ tứ thể lầm vài bốn lối, nét cứ như đanh;
Sách thập khoa quên đủ mười bài, văn trơ như thép.
Mô, tê, răng, rứa;
Giả, dã, chi, hồ.
Hoặc cầm roi nhi quát tháo;
Hoặc nghe sách nhi gật gù.
“Sừ tiên ban, sứ tiên cung”, bắt khoan bắt nhặt;
“Tiền diệc tặc, hậu diệc tặc”, tiếng nhỏ tiếng to.
Nước chè tầu uống một vài hơi, mặt cán tàn chi thẳng;
Thuốc lá tỉnh hút dăm ba điếu, đầu tán lọng chi rù.
Dĩ nhi:
Xem sách xem văn;
Chấm bài chấm đối.
Lên mặt thầy, sổ tựa băm bầu;
Bưng mắt chủ, khuyên như lòi tói.
Hạ bút xuống tô tô dạm dạm, mực trát đen sì;
Giở bài ra đọc đọc ngâm ngâm, son hoà đỏ chói.
Lương nguyệt đốn lại nài nhất đệ, bàn mỏng bàn dày;
Tiền hương khoa toan bổ đồng môn, thu chầy thu cối.
Dĩ nhi:
Khăn bỏ đầu rìu;
Quần xoay lá toạ.
Ôm bụng nằm mèo;
Nhe răng nói quạ.
Cầm quyển sách ngủ gà ngủ gật, đầu canh hai đã chực đi nằm;
Ra tiệc ngồi mắt trước mắt sau, cỗ bàn nhất lại toan đánh cả.
Cổ cò ngóng gái, “phụng thỉnh như lai”;
Tay vẹt vẽ bùa, “phó lô thiêu hoá”.
Cũng có lúc:
Việc làng việc họ;
Về cửa về nhà.
Bàn giang đởm;
Tính trù trà.
Thầy nài nẫm thêm dăm tiền nữa;
Chủ kèo cò đưa mấy đồng ra.
Ruột tượng thắt lưng, nguyên đồ khố rận;
Khăn tay giắt rốn, rặt giống cau già.
Cực nỗi người mặt nước chân mây, miếng cơm chểnh mảng;
Giở truyện chủ đầu cua tai muỗi, chén rượu khề khà.
Diệc hoặc:
Nhân khi nghỉ mát;
Nhẹ bước thanh nhàn.
Ả cuối ả đầu chi loại;
Tổ tôm tổ tép chi gian.
Bạch định, thập hồng, chèo đò Phó Duyệt;
Xuyên tâm, thượng mã, nổi trống Hà Nam.
Toét mắt được gì, đã lờ đờ như mất khố;
Cúi đầu về thẳng, diệc đủng đỉnh như tựu trường.
Đánh trống qua cửa nhà sấm;
Đem chuông đi đấm nước người.
Gắt như con khỉ;
Cười ngỡ đười ươi.
Rượu bứ cung thang, múa ba hoa chi mép;
Văn gàn bát sách, rung chữ ngũ chi đùi.
Tốt vậy thay!
Vị nghiễm hương sư;
Quyền long giáo dưỡng.
Dở lính dở quan;
Vừa thầy vừa tráng.
Ba chìm bảy nổi, ngông dại ngông càn;
Chín giận mười lành, nhớn nhơ nhớn nhác.
Chữ nghĩa sau;
Công nghĩa trước.
Há phải rằng là…;
Thôi thì bất nhược!
Gạt nước mắt khóc thầm cùng vũ trụ;
Trách trời xanh bạn với bút nghiên chi?
Hở hàm răng cười vụng với giang san;
Đem mặt trắng vẫy vùng son phấn nước!
Nỡ trừ công:
Nhất nhị như tam hề, thường tân nguyên đán;
Nhị tứ như bát hề, y phục công dung.
Thầy cậy khôn, một ly một tính;
Chủ sợ tốn, ba cọc ba đồng.
Võng đào khiêng chấm đất chi lưng, thực đài chửa chú?
Rượu cúc toét cù lì chi miệng, sao láo với ông?
Rõ ràng quốc sĩ;
Thực đấng anh hùng.
Phù khởi tích nhật chi đi dạy, học giả;
Diệc bất quá nhất anh đồ ngông, dã tai.
Viên tòng nhi ca chi viết:
Ê thầy đồ chi hữu tác hề.
Khướng chữ tốt nhi văn hay,
Truyện Thuý Kiều kỳ đọc ngược hề,
Kinh Tam tự kỳ biết ngay!
Thi nhân chính ư khuyên điểm hề,
Chấn thiên oai ư roi mây.
Ký lễ sinh chi phất nhược hề,
Thành kỳ mục chi nan tầy.
Hễ nhà chủ chi có nuôi hề
Tấc ngất ngưởng nhi vi thầy.
Hễ nhà chủ chi… đếch nuôi hề,
Rồi ông xem hộ chúng bay!…

Nghĩ xem đẹp nhất ở làng Và,
Tiếc gọi rằng già cũng chửa già
Làn sóng liếc ngang đôi mắt phượng
Tóc mây rủ xuống một đuôi gà.
Nói năng duyên dáng coi như thể…
Đi đứng khoan thai thế cũng là…
Nghe nói muốn thôi, thôi chửa được,
Được làm dơ dở đã thôi a?

Ngày xưa Lựu muốn lấy ông,
Ông chê Lựu bé, Lưu không biết gì.
Bây giờ Lựu đã đến thời,
Ông muốn lấy Lựu, Lựu chê ông già
Ông già ông khác người ta,
Những cái nhi nhắt, ông ma bằng mười.

Nghĩ rằng ông dại với ông điên,
Điên dại sao ông biết lấy tiền?
Cậy cái bảng vàng treo nhị giáp,
Khoét thằng mặt trắng lấy tam nguyên.
Dấu nhà vừa thoát sừng trâu lỗ,
Phép nước xin chừa móng lợn đen.
Chỉ cốt túi mình cho nặng chặt,
Trăm năm mặc kệ tiếng chê khen.

Năm nào năm nảo hãy còn ngây,
Sầm sập già đâu đã đến ngay.
Mái tóc phần sâu, phần lốm đốm,
Hàm răng chiếc rụng, chiếc lung lay.
Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tỏ,
Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say.
Còn một nỗi này thêm chán ngán,
Đi đâu lủng củng cối cùng chày.

Trên đây chúng tôi đã chia sẻ đến quý độc giả những bài thơ chữ nôm đầy ấn tượng nhất của Nguyễn Khuyến. Ông là một nhà thơ có đóng góp lớn cho nền văn học Việt Nam. Mời quý độc giả đón xem phần 5 vào một ngày gần nhất nhé!

Xem Thêm: Trọn bộ những bài thơ chữ nôm của nhà thơ Nguyễn Khuyến phần 3

Được gắn thẻ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *