Tin mới Xem thêm

  • Võ Văn Pho chờ mai nắng ấm

    Tính sao đây/ Phải sao đây?/ Giữa bao ngang trái/ Chất đầy trái ngang./ May còn/ Tình mẹ cưu mang

  • Nguyễn Thị Phương Nam gửi vào khoảng lặng

    Có những ngày im lặng/ Nghe nhịp thời gian trôi/ Đếm từng đợt mưa rơi/ Tính từng ngày nắng ấm/ Nhìn từng cơn gió thoảng

  • Dẹp cho hiệu quả

    Cựu Tổng thống Mỹ Ronald Reagan có câu nói rất nổi tiếng: "Let's it die" (hãy để cho nó chết) chính là để nói về thái độ cần thiết khi “thanh lọc”

  • Cảm hứng từ lý tưởng và tính nhân văn

    Với tính nhân văn cao, chất lãng mạn trữ tình và hiện thực sâu sắc, văn học Nga - Xô Viết đã ảnh hưởng mạnh mẽ lên tính cách, lối sống của con người và văn học Việt trong một thời kỳ dài sau Cách mạng Tháng Mười. Có thể nói, nước Nga và văn học Nga - Xô Viết luôn là niềm tự hào của các thế hệ cầm bút ở Việt Nam.

  • Kim Hài - Giòng sông Tỉnh Thức - kỳ 3

    Cái tư thế kỳ lạ của Quân khi qua đời khiến dân Tối Thượng xôn xao. Thái độ thờ ơ, lầm lủi của mọi người dường

  • Nguyễn Vũ Tiềm tương tư gói lại mang về

    Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm năm nay đã 77 tuổi. Hơn nửa thế kỷ miệt mài với thi ca, ông có một vị trí đáng kể trong lòng công chúng

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Thế giới sách

Tiểu thuyết Việt Nam 1945-1975

 

 

MỘT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU MỚI VỀ

TIỂU THUYẾT VIỆT NAM 1945 - 1975

 

 

            Bùi Việt Thắng(*)  

 

Tiểu thuyết Việt Nam 1945 - 1975 (Tiểu thuyết cách mạng xuất bản ở miền Bắc) - Nxb Văn học, 2010 - của Tiến sĩ Phạm Ngọc Hiền đi sâu nghiên cứu sự phát triển của tiểu thuyết, một thể loại được coi là rất quan trọng của nền văn học hiện đại Việt Nam thế kỉ XX. Tiểu thuyết vẫn được coi như là mảnh đất lưu giữ hình ảnh lịch sử của một dân tộc. Tiểu thuyết Việt Nam viết bằng Quốc ngữ dù sao vẫn còn là non trẻ trong độ dài khoảng 100 năm so với  tiểu thuyết trong các nền văn học khác như Tây Ban Nha, Pháp, Trung Quốc có lịch sử nhiều thế kỉ... Tự biết là lực bất tòng tâm trước những khó khăn chưa thể vượt qua, cả phía khách quan lẫn chủ quan, khi nghiên cứu thể loại tiểu thuyết cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, nên tác giả chuyên luận đã giới hạn phạm vi khảo sát trên cơ sở cứ liệu “Tiểu thuyết cách mạng xuất bản ở miền Bắc” (vì khái niệm tiểu thuyết Việt Nam 1945 - 1975 là rất rộng lớn, bao gồm cả bộ phận tiểu thuyết vùng tạm chiếm ở cả nước trong giai đoạn 1946 - 1954 và ở miền Nam trong thời kì 1954 - 1975). Đó là thái độ khôn ngoan của một người biết mình biết ta. Nhưng dẫu như thế, theo tôi, người nghiên cứu cũng đã phải bao công phu đèn sách, cũng lao tâm khổ tứ trong nhiều năm, phải đọc một khối lượng tác phẩm không thể nói là ít (theo thống kê của chính tác giả chuyên luận thì tất cả là 165 cuốn tiểu thuyết). Và điều đáng nói hơn nữa, đây chính là Luận án Tiến sĩ của tác giả, đã được chỉnh sửa và nâng cao trước lúc in thành sách dưới dạng một chuyên luận (như chúng ta biết, vì rất nhiều lí do, không phải luận án tiến sĩ nào cũng có thể in ra thành sách được!).

     Một cái nhìn toàn cảnh về tiểu thuyết cách mạng Việt Nam (xuất bản ở miền Bắc) là ưu điểm nổi bật của chuyên luận, thể hiện trong chương II “Tiểu thuyết cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954”; chương III “Tiểu thuyết cách mạng Việt Nam giai đoạn 1955 - 1964” và chương IV “Tiểu thuyết cách mạng Việt Nam giai đoạn 1965 - 1975”. Trong 3 chương này tác giả chuyên luận đã rất công phu và nghiêm túc khi xử lí một khối lượng tư liệu không hề ít (phải đọc không theo tư cách người thưởng thức mà đọc theo tư cách người nghiên cứu 165 cuốn tiểu thuyết). Các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp được tác giả kết hợp khá nhuần nhuyễn trong thao tác nghiên cứu. Công phu của nhà nghiên cứu là ở chỗ đã dựng lại diện mạo nền tiểu thuyết cách mạng Việt Nam trong độ dài thời gian 30 năm, của thời kì lịch sử cách mạng và chiến tranh (từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên sau năm 1945 có tư tưởng cách mạng rõ nét nhất là Cô gái Bình Xuyên, 1946, của Hồ DZếnh, đến tiểu thuyết Rừng động, 1975, của Mạc Phi).

    Tuy nhiên việc tái hiện lịch sử một thể loại trong một giai đoạn nào đó không phải là nhiệm vụ quá khó khăn đối với bất kì nhà nghiên cứu nào, nếu người ấy có ít nhiều kinh nghiệm và quan trọng hơn là sự công phu và kiên nhẫn. Đóng góp của tác giả chuyên luận Tiểu thuyết Việt Nam 1945 - 1975 (Tiểu thuyết cách mạng xuất bản ở miền Bắc) có thể nói chủ yếu thể hiện ở chương V “Những đặc điểm của tiểu thuyết cách mạng Việt Nam 1945 - 1975” và chương VI “Đánh giá tiểu thuyết cách mạng Việt Nam 1945 - 1975”. Lập trường khoa học, phương pháp khoa học của người nghiên cứu khúc xạ rõ nhất ở đây. Nói cách khác sở trường, sở đoản của người nghiên cứu thể hiện rõ ràng nhất cũng chính ở đây. Chương V với hơn 90 trang (chiếm một phần tư độ dài của cả chuyên luận), có thể hình dung là nơi tác giả dồn nhiều tâm huyết khi viết công trình này. Rất khách quan khi tác giả cùng lúc đề xuất ba hướng tiếp cận tiểu thuyết cách mạng Việt Nam 1945 - 1975: xã hội học, loại hình sử thi và thi pháp học thể loại. Tuy nhiên, nếu chỉ tiếp cận đối tượng vốn không hề đơn giản (như cách diễn đạt của M. Bakhtin “Tiểu thuyết là một sinh ngữ trẻ”) từ một hướng duy nhất thì người nghiên cứu sẽ gặp phải những khó khăn không dễ gì vượt qua. Bởi vậy theo tác giả chuyên luận thì “Phương pháp tối ưu nhất vẫn là kết hợp cả ba cách trên trong quá trình nghiên cứu đặc điểm của tiểu thuyết cách mạng Việt Nam”. Trong chương trọng điểm này tác giả đã phân tích những đặc điểm quan trọng của tiểu thuyết cách mạng Việt Nam 1945 - 1975: nội dung thể tài, nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ. Sự phân tích kĩ lưỡng các đặc điểm của tiểu thuyết cách mạng Việt nam 1945 - 1975 chứng tỏ tác giả chuyên luận là người kết hợp được cả hai phẩm tính - tư duy lí luận và cảm thụ tác phẩm. Là người làm cùng nghề nên khi được tặng và đọc chuyên luận tôi nhận thấy rõ điều ấy và thực sự khâm phục tinh thần xả thân vì khoa học của tác giả Phạm Ngọc Hiền.

   Chương VI “Đánh giá tiểu thuyết cách mạng Việt Nam 1945 - 1975” (21 trang), theo tôi, đã thể hiện vừa là trình độ, vừa là bản lĩnh của tác giả chuyên luận. Ở đây thực sự đòi hỏi một tinh thần khoa học, một thái độ công bằng và khách quan, tuy nhiên vẫn có những thể tất nhất định. Thường khi làm công việc đánh giá, nhất là đánh giá một giai đoạn văn học quá khứ, người ta thường nêu lên trước những ưu điểm rồi sau đó mới nêu nhược điểm. Nhưng trong trường hợp này tác giả chuyên luận đã thao tác ngược lại - nêu hạn chế trước, thành công sau. Theo tôi, khi nêu hạn chế của tiểu thuyết cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, tác giả đã truy tìm được những nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan và lí giải theo quan điểm lịch sử - cụ thể: “Trước hết cần nhận thấy rằng văn học thời kì này khởi đầu cho một khuynh hướng văn học mới mẻ chưa từng có trong lịch sử nước nhà. Bởi vậy, các nhà văn  phải chấp nhận “vạn sự khởi đầu nan”, mò mẫm tìm hiểu phương pháp sáng tác mới để thích hợp với thời đại cách mạng vô sản. Suốt chín năm kháng chiến chống Pháp, tiểu thuyết không phát triển vì nhà văn còn đang “nhận đường”. Sau năm 1954, các nhà văn vẫn phải vất vả “nhận đường” lần thứ hai và nhiều người phải trả giá cho những bước sai lầm do “nắm đường lối chưa vững” (...). Nhưng từ năm 1965, chiến tranh lan rộng cả hai miền, các nhà văn phải viết vội vàng để phục vụ kịp thời các mục tiêu chính trị trước mắt nên trên văn đàn chỉ thuần một giọng anh hùng ca”. Tôi nghĩ, cách giải thích như thế là thấu tình đạt lí, là có sức thuyết phục người đọc. Những thành công của tiểu thuyết cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, được tác giả chuyên luận đánh giá qua việc thực hiện ba chức năng của văn học (nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ). Các tiêu chuẩn đánh giá thành công của tiểu thuyết cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, theo cách đề xuất của tác giả, công bằng mà nói không có gì là mới mẻ hoàn toàn. Nhưng theo tôi, cách kiến giải khoa học theo hướng đó được coi như là một thái độ ứng xử văn hóa “Trong đời sống văn học xưa nay, việc có nhiều ý kiến trái ngược nhau về một tác giả, tác phẩm là chuyện bình thường. Tiểu thuyết cách mạng Việt Nam thời chiến tranh cũng không tránh khỏi tình trạng đó. Để đánh giá chính xác, cần đặt nó vào một hoàn cảnh lịch sử nhất định để có thể thấy được những nguyên nhân dẫn đến hạn chế và những nỗ lực vươn lên của các nhà văn (...). Dễ nhận thấy rằng, độ lùi tiếp nhận càng xa thì tính khách quan càng cao, những thiên kiến xã hội sẽ giảm bớt, quá khứ sẽ được đề cao”.

   Ngoài 6 chương thuộc nội dung nghiên cứu, chuyên luận còn có phần phụ lục “Giới thiệu các tiểu thuyết cách mạng Việt Nam 1945 - 1975” (giới thiệu ngắn gọn nhưng toát yếu được nội dung 165 cuốn tiểu thuyết cách mạng Việt Nam, từ Xung kích – 1951 - của Nguyễn Đình Thi đến Rừng động – 1975 - của Mạc Phi). Đây là phần tài liệu tham khảo rất thú vị và bổ ích cho giới nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại (từ sau năm 1945).

   Trong quá khứ gần, một số người đã từng có ý đồ phủ nhận sạch trơn thành tựu của nền văn học cách mạng nói chung, tiểu thuyết cách mạng nói riêng (họ hạ bệ đối tượng bằng cách gán cho nó là văn học phải đạo, văn học quan phương, văn học chính trị, văn học minh họa...). Nhưng như bất cứ sự vật nào, tiểu thuyết cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 cũng có hai mặt của nó - mặt trái và mặt phải, mặt được và chưa được, mặt đáng tiếp thu và mặt cần thiết phải vượt qua. Đó là cách nhìn biện chứng đối với di sản văn học quá khứ. Chuyên luận của tác giả Phạm Ngọc Hiền đã góp thêm một tiếng nói khoa học, khách quan công bằng và quan trọng nhất là bình tĩnh khi nhìn nhận lại các giá trị của quá khứ. Dĩ nhiên là không tránh khỏi một vài thiếu sót trong quá trình nghiên cứu một đối tượng quá lớn so với sức lực của một cá nhân. Công trình này thực ra đòi hỏi một sự cộng tác và hợp tác nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và phải có thời gian cũng như sự đầu tư công sức. Có thể nói, tác giả Phạm Ngọc Hiền đã dũng cảm nhận lấy sứ mệnh cao cả nhưng cũng đầy những thử thách lớn lao khi nghiên cứu tiểu thuyết cách mạng Việt Nam 1945 - 1975. Là một đồng nghiệp, tôi thực sự kính phục trước hết là nhiệt huyết, sau nữa là công sức và cuối cùng là hướng đi đúng của việc nghiên cứu một đối tượng mà qua đó chúng ta có thể hình dung được những vấn đề quan thiết của nền văn học cách mạng Việt Nam 1945 - 1975. Tôi nghĩ rằng, với công trình này tác giả Phạm Ngọc Hiền thực sự có đóng góp vào việc nghiên cứu tiến trình văn học hiện đại Việt Nam thông qua việc nghiên cứu hệ thống các thể loại văn học. “Đây là cuốn sách đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về toàn bộ tiểu thuyết cách mạng Việt Nam 1945 - 1975. Tác phẩm được viết bằng một văn phong khoa học khách quan, theo tinh thần Đổi mới, khẳng định lại giá trị nghệ thuật của nhiều tiểu thuyết lâu nay ít được nhắc tới hoặc từng bị đánh giá chưa công bằng. Ngoài phần chuyên luận, còn có thêm phần tóm tắt hầu hết các tiểu thuyết giai đoạn này... Điều đó cho thấy tác giả có sự dày công nghiên cứu về lĩnh vực văn xuôi Việt Nam thời chiến tranh...”. Nhận định in ở bìa bốn cuốn sách đã nói được ưu điểm cơ bản của chuyên luận công phu và nghiêm túc này. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc xa gần công trình khoa học mới của tác giả Phạm Ngọc Hiền về tiểu thuyết cách mạng Việt Nam 1945 - 1975.

                                     Hà Nội, 10.2010

 

--------------------

(*)Tác giả hiện giảng dạy ở Đại học KHXH & NV Hà Nội

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.