Tin mới Xem thêm

  • Dung Thị Vân vòng tròn nhung nhớ

    Em thắt thời gian/ khi xa anh/ Em buộc nỗi lòng/ khi sắp khóc/ Vắng anh rồi/ sợi tóc cũng đơn côi/Những ngày em xa anh

  • Phải đưa trạm thu phí về đúng vị trí!

    Bộ Giao thông vận tải, tỉnh Tiền Giang và nhà đầu tư lý giải rằng nhà đầu tư đã chi hơn 300 tỉ đồng để nâng cấp đoạn quốc lộ 1 qua thị xã Cai Lậy

  • Sự suy thoái và biến dạng các giá trị nhân...

    Sự suy thoái các giá trị nhân văn trong kỷ nguyên phát triển công nghệ và kinh tế đang diễn ra ở quy mô toàn cầu, có những xu hướng chung của toàn thế giới. Nhưng trong xã hội cụ thể như Việt Nam các xu hướng lớn này được thể hiện ra trong những dạng thức riêng

  • Cô đơn, khát vọng và khoảnh khắc trong thơ...

    Thi sĩ hiện đại nắm bắt khoảnh khắc như nắm bắt mùi hương thoảng qua. Trong các nền văn học xa xưa, ý nghĩa của cái khoảnh

  • Nguyễn Đức Mậu & quả chuông nằm yên lặng...

    Giống quả chuông nằm yên lặng trên đồi/ có tiếng gì rung vang trong tôi/ tiếng biển thét gào và âm u tiếng gió

  • Mai Hương & Cơn giông chiều

    Khung cửa sổ luôn cháng nắng, cái nắng ngầy ngật của mùa hè đầy mồ hôi và bụi bặm. Tiếng ve rè như có hàng trăm chiếc ghi ta xăng, ghi ta bát đánh loạn xạ. Thụy An ngồi viết trong tiết trời đó, không một chút gió. Phóng sự vừa xong. Vẫn còn soát lại cho thẳng thớm lối hàng, thì chuông

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

VĂN LÊ - NHÀ THƠ - Thư viện

NHÀ THƠ VĂN LÊ

 

Nhà thơ Văn Lê tên thật là Lê Chí Thuỵ, sinh ngày 02.3.1949, quê ở Gia Thanh, Gia Viễn, Ninh Bình. Ông nhập ngũ 1966, vào chiến trường B2 năm 1967, về tạp chí Văn Nghệ Quân Giải Phóng năm 1974. Sau 1975, ông công tác ở tuần báo Văn Nghệ Giải Phóng rồi tuần báo Văn Nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1977, ông tái ngũ chiến đấu ở Mặt trận 479, Campuchia, đến năm 1982 về công tác tại Hãng phim Giải Phóng cho tới năm 2010 nghỉ hưu.

Văn Lê là con người đa năng, xuất thân nhà thơ dần ông chuyển sang viết văn, viết kịch bản và đạo diễn phim, đạt nhiều thành tựu. Ông đã xuất bản 3 tập thơ, 2 trường ca, 5 tập truyện, 12 tiểu thuyết và được phong Nghệ sĩ ưu tú của ngành điện ảnh.

 

Hội viên: Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Điện ảnh Việt Nam; Uỷ viên Ban Chấp hành, Phó Chủ tịch Hội đồng Thơ - Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh khoá 4, Uỷ viên Hội đồng Thơ khoá 5,6.

 

Tác phẩm đã xuất bản:

 

- Một miền đất, những con người (tập thơ, 1976)

- Những ngày không yên tĩnh (truyện, ký 1978)

- Chuyện một người du kích (truyện, 1980)

- Bão đen (truyện, 1980)

- Đồng chí Đại tá của tôi (truyện, 1981)

- Người gặp trên tàu (tiểu thuyết, 1982)

- Khoảng thời gian tôi biết (tập thơ, 1983)

- Ngôi chùa ở Pratthana (tiểu thuyết, 1985)

- Khoảng rừng có những ngôi sao (tiểu thuyết, 1985)

- Hai người còn lại trong rừng (tiểu thuyết, 1989)

- Tình yêu cả cuộc đời (tiểu thuyết, 1989)

- Khi tòa chưa tuyên án (tiểu thuyết, 1989)

- Tiếng rơi của hạt sương khuya (tiểu thuyết, 1993)

- Phải lòng (tập thơ, 1994)

- Nếu anh còn được sống (tiểu thuyết, in lần 1 năm 1994, lần 2: 2002; xuất bản tại Hàn Quốc năm 2003)

- Chim Hồng nhạn bay về (tập truyện ngắn, 1996)

- Những cánh đồng dưới lửa (trường ca, 1997)

- Đồng dao thời chiến tranh (tiểu thuyết, 1999)

- Cao hơn bầu trời (tiểu thuyết, 2004)

- Những câu chuyện làng quê (văn, 2005)

- Câu chuyện của người lính binh nhì (trường ca, 2006)

- Mùa hè giá buốt (tiểu thuyết, in lần 1: 2009, lần 2: 2012)

- Mỹ nhân (tiểu thuyết, 2013)

- Vé trở về (tập thơ, 2013)

- Thần thuyết của Người Chim (tiểu thuyết, 2014)

- Phượng hoàng (tiểu thuyết, 2014)

 

Giải thưởng văn học:

 

- Giải A cuộc thi thơ của tuần báo Văn Nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam (1975-1976).

- Giải B thơ tạp chí Văn Nghệ Quân Đội năm 1984.

- Giải A thơ về đề tài Chiến tranh Cách mạng, Hội Nhà văn Việt Nam 1994, với tập thơ Phải lòng.

- Tặng thưởng Văn học Bộ Quốc phòng 1994, với tiểu thuyết Nếu anh còn được sống.

- Tập trường ca Những cánh đồng dưới lửa nhận Giải thưởng Văn học Bộ Quốc phòng 1999; Giải thưởng Văn học quốc tế Me Kong 2006.

- Tiểu thuyết Mùa hè giá buốt, giải B (Không có giải A) về Văn học chiến tranh, Bộ Quốc phòng (2004 - 2009). Giải nhất Giải thưởng văn học nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh 5 năm (2006-2011)

- Tiểu thuyết Phượng hoàng nhận giải A về văn học chiến tranh của Bộ Quốc phòng 5 năm (2009-2014).

 

Đồng thời, trong lĩnh vực điện ảnh, Văn Lê đã nhận các giải thưởng: 03 lần đạt giải thưởng kịch bản phim Tài liệu xuất sắc nhất, 01 giải thưởng Đạo diễn xuất sắc nhất, 01 giải Bông Sen Vàng, 05 Bông Sen Bạc, 02 Cánh Diều Vàng. 01 giải Galaxy của truyền hình Nhật Bản và nhiều giải thưởng cao về phim tài liệu của Hội Điện ảnh Việt Nam.

Ông là tác giả kịch bản phim truyện Long Thành cầm giả ca, Giải nhất về kịch bản của Cục Điện ảnh - Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch. Bộ phim được nhận giải nhất Cánh Diều Vàng của Hội Điện ảnh năm 2012.

 

Quan niệm văn học:

 

- Nếu chỉ được chọn 1 trong 3 - thơ, văn xuôi và điện ảnh thì tôi chọn thơ. Cho dù làm thơ rất khó, càng ngày càng khó, càng lớn tuổi càng khó. Chỉ khi thật sự xúc động tôi mới có thể làm thơ.

- Khó nhất của người làm thơ là sự chai lì cảm xúc, đánh mất cảm xúc. Dù là thơ chính luận thì cũng cần phải có cảm xúc. Tất cả mọi sáng tạo nghệ thuật, đặc biệt là thơ, nếu đánh mất cảm xúc thì đều thất bại.

 

TÁC PHẨM TRÊN NVTPHCM:

 

>> Bước gió truyền kỳ: Cảm hứng lịch sử và cảm hứng thời đại - tiểu luận

>> Quang Chuyền và dòng thơ lục bát - tiểu luận

>> Vé trở về - thơ

>> Những người làm chủ biển Đông - thơ 

>> Gởi một nhà thơ Nam Dương - thơ

 

VIẾT VỀ VĂN LÊ:

 

>> Cảm hứng lịch sử luôn thôi thúc tôi cầm bút

>> Huyền thoại luôn bắt đầu từ sự thật

>> Huyền thoại bắt nguồn từ sự thật 

>> Sức mạnh của năng lượng kỳ diệu

>> Viết về chiến tranh là để củng cố đạo đức và lẽ phải

>> Sức mạnh tình yêu chiến thắng tình yêu sức mạnh

>> Âm hưởng bi tráng trong tiểu thuyết Mùa hè giá buốt

>> Người nghệ sĩ đắm say hồn dân tộc

>> Phan Hoàng hầu chuyện Văn Lê

 

ẢNH TƯ LIỆU CỦA VĂN LÊ:

 

Nhà thơ Văn Lê

 

Văn Lê - Ảnh: Yên Yên

 

 

>> Xem tiếp Thư viện tác giả...

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.