Tin mới Xem thêm

  • Bao giờ cho đến ngày xưa?

    Với điện ảnh miền Nam, cột mốc 30-4-1975 đã mở ra vận hội mới, đã tập hợp những người làm phim của kháng chiến cùng với nghệ sĩ điện ảnh

  • Ba ngày cho một trận đánh lịch sử

    Tôi nhận điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Đúng 8 giờ sáng ngày 26 tháng 4 năm 1975 có mặt tại Tổng hành dinh để nhận nhiệm vụ”. Bức điện của Tổng tư lệnh thật ngắn gọn nhưng tôi đã hình dung được khối lượng công việc thật khẩn trương cấp bách và quan trọng mà Quân chủng Phòng không - Không quân phải làm trong những ngày tới.

  • Trần Thế Tuyển & Ba mươi tháng Tư

    Ngày cũng như bao ngày/ Tháng cũng như bao tháng/ Chỉ có điều diệu kỳ và hùng tráng/ Năm cánh quân như bão táp chuyển mình

  • Thật thà như Nguyễn Trí Huân

    Chơi với Huân thì quả thật là khá nhạt nhẽo, đôi khi tức anh ách vì tính khí ngập ngừng, không ráo riết, trong khi đó tôi thì

  • Trần Lê Khánh nhặt tiếng thác đổ trong nôi

    nhặt tiếng thác đổ trong nôi/ nghe tiếng trứng vỡ ở nơi thiên hà/ người đi mờ tiếng xa xa/ trăng thu vùng dậy, nhận ra bóng mình

  • Vĩnh Thông & Thần làng Năng

    Người ta nói rằng thần làng Năng linh thiêng lắm! Sóng gió từ đâu nổi lên cuồn cuộn, gầm rú ghê rợn, chiếc xà lang chao đảo điên cuồng. Chín Nhạn bị gió nhấc bổng, cuốn ra khỏi xà lang rồi hất mạnh xuống lòng sông. Con sông ấy rất sâu, sâu hoắm. Cho tới một lúc nào đó

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

VĂN LÊ - NHÀ THƠ - Thư viện

NHÀ THƠ VĂN LÊ

 

Nhà thơ Văn Lê tên thật là Lê Chí Thuỵ, sinh ngày 02.3.1949, quê ở Gia Thanh, Gia Viễn, Ninh Bình. Ông nhập ngũ 1966, vào chiến trường B2 năm 1967, về tạp chí Văn Nghệ Quân Giải Phóng năm 1974. Sau 1975, ông công tác ở tuần báo Văn Nghệ Giải Phóng rồi tuần báo Văn Nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1977, ông tái ngũ chiến đấu ở Mặt trận 479, Campuchia, đến năm 1982 về công tác tại Hãng phim Giải Phóng cho tới năm 2010 nghỉ hưu.

Văn Lê là con người đa năng, xuất thân nhà thơ dần ông chuyển sang viết văn, viết kịch bản và đạo diễn phim, đạt nhiều thành tựu. Ông đã xuất bản 3 tập thơ, 2 trường ca, 5 tập truyện, 12 tiểu thuyết và được phong Nghệ sĩ ưu tú của ngành điện ảnh.

 

Hội viên: Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Điện ảnh Việt Nam; Uỷ viên Ban Chấp hành, Phó Chủ tịch Hội đồng Thơ - Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh khoá 4, Uỷ viên Hội đồng Thơ khoá 5,6.

 

Tác phẩm đã xuất bản:

 

- Một miền đất, những con người (tập thơ, 1976)

- Những ngày không yên tĩnh (truyện, ký 1978)

- Chuyện một người du kích (truyện, 1980)

- Bão đen (truyện, 1980)

- Đồng chí Đại tá của tôi (truyện, 1981)

- Người gặp trên tàu (tiểu thuyết, 1982)

- Khoảng thời gian tôi biết (tập thơ, 1983)

- Ngôi chùa ở Pratthana (tiểu thuyết, 1985)

- Khoảng rừng có những ngôi sao (tiểu thuyết, 1985)

- Hai người còn lại trong rừng (tiểu thuyết, 1989)

- Tình yêu cả cuộc đời (tiểu thuyết, 1989)

- Khi tòa chưa tuyên án (tiểu thuyết, 1989)

- Tiếng rơi của hạt sương khuya (tiểu thuyết, 1993)

- Phải lòng (tập thơ, 1994)

- Nếu anh còn được sống (tiểu thuyết, in lần 1 năm 1994, lần 2: 2002; xuất bản tại Hàn Quốc năm 2003)

- Chim Hồng nhạn bay về (tập truyện ngắn, 1996)

- Những cánh đồng dưới lửa (trường ca, 1997)

- Đồng dao thời chiến tranh (tiểu thuyết, 1999)

- Cao hơn bầu trời (tiểu thuyết, 2004)

- Những câu chuyện làng quê (văn, 2005)

- Câu chuyện của người lính binh nhì (trường ca, 2006)

- Mùa hè giá buốt (tiểu thuyết, in lần 1: 2009, lần 2: 2012)

- Mỹ nhân (tiểu thuyết, 2013)

- Vé trở về (tập thơ, 2013)

- Thần thuyết của Người Chim (tiểu thuyết, 2014)

- Phượng hoàng (tiểu thuyết, 2014)

 

Giải thưởng văn học:

 

- Giải A cuộc thi thơ của tuần báo Văn Nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam (1975-1976).

- Giải B thơ tạp chí Văn Nghệ Quân Đội năm 1984.

- Giải A thơ về đề tài Chiến tranh Cách mạng, Hội Nhà văn Việt Nam 1994, với tập thơ Phải lòng.

- Tặng thưởng Văn học Bộ Quốc phòng 1994, với tiểu thuyết Nếu anh còn được sống.

- Tập trường ca Những cánh đồng dưới lửa nhận Giải thưởng Văn học Bộ Quốc phòng 1999; Giải thưởng Văn học quốc tế Me Kong 2006.

- Tiểu thuyết Mùa hè giá buốt, giải B (Không có giải A) về Văn học chiến tranh, Bộ Quốc phòng (2004 - 2009). Giải nhất Giải thưởng văn học nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh 5 năm (2006-2011)

- Tiểu thuyết Phượng hoàng nhận giải A về văn học chiến tranh của Bộ Quốc phòng 5 năm (2009-2014).

 

Đồng thời, trong lĩnh vực điện ảnh, Văn Lê đã nhận các giải thưởng: 03 lần đạt giải thưởng kịch bản phim Tài liệu xuất sắc nhất, 01 giải thưởng Đạo diễn xuất sắc nhất, 01 giải Bông Sen Vàng, 05 Bông Sen Bạc, 02 Cánh Diều Vàng. 01 giải Galaxy của truyền hình Nhật Bản và nhiều giải thưởng cao về phim tài liệu của Hội Điện ảnh Việt Nam.

Ông là tác giả kịch bản phim truyện Long Thành cầm giả ca, Giải nhất về kịch bản của Cục Điện ảnh - Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch. Bộ phim được nhận giải nhất Cánh Diều Vàng của Hội Điện ảnh năm 2012.

 

Quan niệm văn học:

 

- Nếu chỉ được chọn 1 trong 3 - thơ, văn xuôi và điện ảnh thì tôi chọn thơ. Cho dù làm thơ rất khó, càng ngày càng khó, càng lớn tuổi càng khó. Chỉ khi thật sự xúc động tôi mới có thể làm thơ.

- Khó nhất của người làm thơ là sự chai lì cảm xúc, đánh mất cảm xúc. Dù là thơ chính luận thì cũng cần phải có cảm xúc. Tất cả mọi sáng tạo nghệ thuật, đặc biệt là thơ, nếu đánh mất cảm xúc thì đều thất bại.

 

TÁC PHẨM TRÊN NVTPHCM:

>> Bước gió truyền kỳ: Cảm hứng lịch sử và cảm hứng thời đại - tiểu luận

>> Quang Chuyền và dòng thơ lục bát - tiểu luận

>> Vé trở về - thơ

>> Những người làm chủ biển Đông - thơ 

>> Gởi một nhà thơ Nam Dương - thơ

 

VIẾT VỀ VĂN LÊ:

>> Huyền thoại luôn bắt đầu từ sự thật

>> Huyền thoại bắt nguồn từ sự thật 

>> Sức mạnh của năng lượng kỳ diệu

>> Viết về chiến tranh là để củng cố đạo đức và lẽ phải

>> Sức mạnh tình yêu chiến thắng tình yêu sức mạnh

>> Âm hưởng bi tráng trong tiểu thuyết Mùa hè giá buốt

>> Người nghệ sĩ đắm say hồn dân tộc

>> Phan Hoàng hầu chuyện Văn Lê

 

ẢNH TƯ LIỆU CỦA VĂN LÊ:

 

Nhà thơ Văn Lê

 

 

 

>> Xem tiếp Thư viện tác giả...

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.